Tag Archives: hiep uoc so bo

70 Năm Kể Từ Ngày Bán Nước

Tháng 3/1946 đến 3/2016 là đúng 70  năm. Tháng 3/1946 đánh dấu mốc điểm quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Người dân Hà Nội đã gọi “Hồ Chí Minh bán nước” ngay sau khi Hồ ký Hiệp Ước Sơ Bộ (HƯSB) ngày 6/3/1946 với đại sứ Pháp Jean Sainteny. Điểm qua những hiện tượng xảy ra vào đầu năm 1946 và dẫn đến cuộc chiến tranh Đông Dương vào cuối năm.

 Leclerc, Ho Chi Minh, Jean Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký HƯSB

Picture from Pierre Brocheux book. Leclerc, Ho Chi Minh, Jean Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký HƯSB.

Những nhà báo quốc tế có mặt tại Hà Nội sau vụ ký HƯSB họ đã chứng kiến cảnh HCM tổ chức tiệc ăn mừng.

…they suddenly saw trayloads of champagne being taken into the paymaster general’s villa, where Ho was living. The journalists hurried inside but too late to witness the initialing ceremony (Ho Chi Minh, Jean Lacouture, page 134)– …họ bỗng thấy những khay nặng của rượu champagne được mang vào tòa nhà, nơi Hồ ở. Những nhà báo vội chạy vào trong nhưng đã trễ để chứng kiến những lời mở đầu của nghi lễ. Continue reading

Advertisements

Sự Khác Biệt giữa Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 và Tạm Ước 14/9/1946

Hiệp Ước Sơ Bộ(HƯSB) 6/3/1946 được ký giữa Hồ Chí Minh (HCM) và đại diện Pháp Jean Sainteny tại Hà Nội. Trong lúc này chính phủ lâm thời ở nước Pháp do Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản lãnh đạo. HCM và Pháp đã có những thỏa thuận qua lại từ tháng 2/1946, trên nguyên tắc Hồ đã chấp nhận tất cả những gì nước Pháp mẹ đề ra, và kết quả của sự thỏa thuận này là HƯSB. Continue reading

Những Chuyện Bên Lề Hội Nghị Fontainebleau 1946

Thường qua các bài viết người ta chỉ biết Hồ Chí Minh(HCM) thất bại nặng nề tại hội nghị Fontainebleau bên Pháp xảy ra từ 7-9/1946, khi phe bảo thủ lấy lại quốc hội từ phe thiên tả. Những chi tiết 4 tháng HCM ở Pháp không được Đảng Cộng Sản Việt Nam trình bày rõ rệt để thấy ra con người và việc làm thật của ông Hồ. Những chính khách, đồng chí, báo giới nhìn và nhận xét HCM như thế nào? Bài viết này xin đưa ra một số tài liệu cụ thể nhằm soi rọi thêm lịch sử trung thực mà đã nhiều năm bị Đảng xuyên tạc cũng như tạo dựng về con người HCM. Continue reading

Pháp Tái Chiếm Đông Dương

Ông ta (Hồ Chí Minh) quả quyết với họ (người Pháp) “và cả thế giới” rằng Việt Nam từ bắc tới nam sẽ trở thành tro bụi, ngay cả nếu nó có nghĩa cuộc sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, và trẻ con, và rằng chính sách của chính phủ ông ta là một loại “tiêu thổ tới cùng.” Câu nói này từ người mà ông ta là sư tổ của loại ngoại giao lưu manh gian hùng. Tôi biết, đó không là một đe dọa vu vơ, và tôi vẫn nhớ mãi nó tới bây giờ một cách sinh động. Những dòng ghi trên được dịch ra từ cuốn “Why Vietnam”, tác giả Archimedes Patti (page 4), nguyên chỉ huy trưởng tình báo OSS của Hoa Kỳ về buổi đối thoại với Hồ Chí Minh (HCM) tại Hà Nội vào đầu tháng 8, 1945. Như vậy HCM đã đoán biết Pháp quay đầu trở lại tái chiếm Đông Dương, ngay lúc này Hồ đã chuẩn bị chiến tranh.

 

Continue reading

Võ Nguyên Giáp Tội Đồ Dân Tộc sau Hồ Chí Minh

Vào giai đoạn Hồ Chí Minh (HCM) thành lập “Chính Phủ Liên Hiệp” trong đó có những người thuộc thành phần phe quốc gia. Một thời gian sau, khi khám phá ra HCM chính là tên cộng sản sừng sỏ với bí danh Nguyễn Ái Quốc đang theo chỉ thị đàn anh bành trướng chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương thì những người quốc gia lật đật rời bỏ không hợp tác với HCM. Riêng một số người thì nhất quyết đi theo đường lối Hồ vạch ra, điển hình nhất là Võ Nguyên Giáp (VNG), Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn… Continue reading

Hồ Chí Minh Bán Nước Lần Thứ Nhất

hcm-leclerc-sainteny-copyNgày 14/9/1958 Phạm Văn Đồng ký công hàm gửi Chu Ân Lai bằng lòng chấp nhận 12 hải lý trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về Trung Cộng. Trước đó 12 năm, 14/9/1946, cũng là ngày nói lên một tội trời không dung đất không tha của Hồ Chí Minh. Nếu cho rằng Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước cho cộng sản đàn anh (Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh) thì lúc Hồ Chí Minh (HCM) ký Tạm Ước 14/9/1946, và trước đó là Hiệp Ước Sơ Bộ, 6/3/1946,  với phe Pháp đồng bọn phải coi là giai đoạn HCM bán nước lần đầu tiên. Continue reading

Lá Thư Ngày 28/2/1946 của Hồ Chí Minh Gửi TT Truman

Nhân chuyến đến Hoa Kỳ của ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang vào ngày 25/7/2013 vừa qua, ông có trao bản copy lá thư của Hồ Chí Minh (HCM) viết vào 28/2/1946, chúng ta thử tìm hiểu động tác này mang ý nghĩa gì. Lá thư đó nội dung nói lên điều gì? Continue reading

Hồ Chí Minh Có Chống Pháp Không?

Ngoài ngày 2/9 mỗi năm Đảng Cộng Sản Việt Nam làm lễ đánh bóng, ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh, mỗi ngày tuổi trẻ tại Việt Nam hiện nay phải học “đạo đức” của ông Hồ, học  công “đánh Pháp giành độc lập” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” v.v…Về nhân vật Hồ Chí Minh, nói chung, ít ai có thể trình bày hoàn toàn một cách sâu rộng để nói lên hết bản chất thực về con người này. Hồ được ví như một đại kịch sĩ. Ông ta có hơn 170 tên họ, bút danh, bí danh dùng để hoạt động, viết bài, qua mặt người khác, cộng thêm một hệ thống tuyên truyền tinh vi của Đảng, tạo dựng ra một hình ảnh vượt xa hẳn sự sống và cuộc đời của một con người bằng xương bằng thịt.

Tôi được biết không ít người ở Việt Nam vẫn còn tin ông Hồ có công đánh Pháp giành độc lập. Đó được coi như lý do nổi cộm nhất để đưa nhân vật họ Hồ thành một “anh hùng dân tộc.” Vậy thực sự Hồ Chí Minh có phải là anh hùng chống Pháp không? Và chống như thế nào? Nếu ông là phe cánh của Pháp thì như thế nào? Bài viết xin trình bày và phân tích những diễn biến trước và sau ngày 2/9/1945, ngày Hồ Chí Minh ra mắt tại quảng trường Ba Đình đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập.”

Trên tờ “Cứu Quốc” của Việt Minh ra ngày 29/8/1945, có đăng bản tin: “Đêm 25-8-45, máy truyền thanh vang rạy khắp mọi phố, mọi ngả đường, mọi hang cùng, ngõ hẻm dục đồng bào đúng 11 giờ ngày 26 đi biểu tình nghênh tiếp một số ủy viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội. Sôi nổi và thao thức mong đợi…,Anh Võ Nguyên Giáp bằng một giọng đanh thép, vạch rõ bổn phận của quốc dân trong lúc này là phải gấp đoàn kết, gạt bỏ hẳn tư tưởng đảng phái, tôn giáo, giai cấp, mau gây một tinh thần chiến đấu hùng hậu để đối phó với mọi tình thế gay go nghiêm trọng rất có thể sẩy ra…”…Võ Nguyên Giáp:” chúng ta phải đoàn kết và thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để thực hiện sự đoàn kết đó, trong chính phủ lâm thời sẽ có thay đổi và mở rộng phạm vi để đón tiếp các vĩ nhân…”

Tại sao có sự cần thiết phải cấp tốc thực hiện ngay một cuộc biểu tình nghênh tiếp phái bộ Mỹ OSS (Office of Strategic Services) dẫn đầu là thiếu tá Archimedes Patti?

Hồ Chí Minh và tập đoàn cướp chính quyền Trần Trọng Kim ngày 19/8/1945, sau lúc Nhật bị hai trái bom nguyên tử của Mỹ bỏ tại Hiroshima và Nagasaki. Như bản tin trên, Việt Minh đang thành lập “chính phủ lâm thời.” Trước khi tuyên bố chính phủ một cách chính thức, phái đoàn Việt Minh vận động ráo riết để tìm phe ủng hộ. Không ai hơn là Hoa Kỳ. Thế nên, ngày 25/8/1945,trên các làn sóng, báo chí Việt Minh kêu gọi thúc giục dân ra đường ngày hôm sau, 26/8/1945, để nghênh tiếp phái bộ Mỹ OSS cùng phái đoàn Việt Minh.

Chính phủ không do dân bầu ra thì ít nhất cũng phái có một quốc gia nào khác công nhận. Nếu không thì, không hơn không kém, cũng giống như một đảng cướp từ trong rừng ra thành dùng vũ lực cướp bóc rồi tự thành lập chính phủ cho mình. Do vậy mà “tình thế gay go nghiêm trọng rất có thể sẩy ra” như lời Võ Nguyên Giáp nói. Đó có phải là vấn đề đối phó với các thành phần không cộng sản, các đảng phái quốc gia. Những khối này chắc chắn không thể chấp nhận một nhà nước độc tài khi họ đã có một thời gian dài tranh đấu chống thực dân Pháp cho quyền tự do làm người. Bởi thế mà nỗi lo của Võ Nguyên Giáp rất là hợp lý. Vậy thì tương kế tựu kế để “thay đổi và mở rộng phạm vi,” phải bắt tay với kẻ thù, lèo lái công cuộc đi đến mục đích. Thế nên về sau mới biết có nhiều người bị trúng kế, ân hận đã trễ, hay lỡ leo lưng cọp thì leo luôn là vậy. “Chính Phủ Liên Hiệp” ra đời cần thiết trong giai đọan cũng với mục đích là Việt Minh nắm chính quyền, dù là liên hiệp, rồi sau đó lộ hẳn đường lối cộng sản.

Cuộc biểu tình ngày 26/8/1945 để chuẩn bị cho ngày 2/9/1945 kết quả như thế nào? Phái đoàn Mỹ đã không có mặt tại cuộc biểu tình. Chắc chắn ông Patti được lệnh từ Washington khi biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một tên quốc tế cộng sản đang hoạt động tại Đông Dương. Liền đó, Hồ lập tức cho Võ Nguyên Giáp hướng dẫn một phái đoàn đến ngay chỗ cư ngụ của Patti tại Hà Nội. Xin trích nguyên văn đoạn sau đây trong sách “Why Vietnam” của Patti, in dưới một tấm hình, sau trang 234 : “26 August 1945, Hanoi. Ho Chi Minh sends an official delegation headed by Vo Nguyen Giap to welcome the American OSS mission to Hanoi. While the band plays the American National Anthem, Giap and his delegation join the author and the OSS team in saluting the American flag.” Đoạn này được dịch: “Hồ Chí Minh gửi một phái đoàn dẫn đầu bởi Võ Nguyên Giáp để nghênh tiếp nhân viên tình báo OSS của Mỹ tại Hà Nội. Trong khi giàn nhạc đánh bài Quốc Ca Hoa Kỳ, ông Giáp và phái đoàn của ông ta đứng cùng với người viết sách này (Patti) và đoàn OSS nghiêm chào cờ Mỹ.”

Như vậy thì quá rõ là phái đoàn Võ Nguyên Giáp đích thân mang cờ Hoa Kỳ, kèn trống từ chỗ biểu tình tới ngay trước cửa nhà thiếu tá Patti để làm lễ “nghênh tiếp một số uỷ viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội” ngoài dự đoán của ông Patti.

Còn một tấm hình được chụp trong nhà trước khi Patti mặc lễ phục ra ngoài sân dự lễ chào cờ. Ông Patti trong bộ đồ thường (casual) đứng chung với phái đoàn của Võ Nguyên Giáp. Hình này được chụp từ một bài viết của một tổ chức có tựa “Hồ Chí Minh Dàn Cảnh: Tiếp Đón Phái Bộ Đồng Minh!” Dưới hình ghi “Trong ảnh: Võ Nguyên Giáp (cà vạt sọc), Nguyễn Hữu Đang (nón trằng), Nguyễn Lương Bằng (phía sau) kéo tới tư thất thiếu tá Patti, yêu cầu ông và nhân viên ra đứng trước cửa để đoàn biểu tình hoan hô phái bộ Đồng minh.” Chúng ta có thể nhìn hai tấm hình để so sánh và nhận ra thủ đoạn của tập đoàn Hồ Chí Minh. Trong hai tấm hình, phe Việt Minh cũng là những gương mặt đó, cũng những bộ đồ trắng đó, nhưng ông Patti thì mặc hai bộ khác nhau, một đồ thường và một lễ phục. Bởi vì khi vừa kéo tới nhà ông Patti, phái đoàn Việt Minh đã yêu cầu Patti ra ngay trước nhà chụp hình (sau lưng Nguyễn Hữu Đang là cánh cửa gỗ trước nhà, không phải ngoài sân) nên Patti mặc quần áo như thường. Sau đó vì ban nhạc ngoài sân trổ quốc ca Hoa Kỳ buộc lòng Patti phải thay lễ phục ra nghiêm chào.

Đối với cộng sản, tuyên truyền bằng hình ảnh rất là lợi hại. Chính Hồ Chí Minh khi gặp tướng Mỹ Chennault cũng yêu cầu Chennault cho một tấm hình và ký tên trong đó. Để chi vậy?  Hồ đem khoe với mọi người là người Mỹ đã ủng hộ ông ta. Sau này khi nhắc tới tấm hình, sĩ quan tình báo Mỹ, ông Charles Fenn (trong Uncle Ho, Uncle Sam video) cười mỉa mai và nhấn mạnh rằng người Mỹ ký tên tặng hình cho một người nào là điều bình thường, nhưng đối với Hồ Chí Minh tấm hình đó lại mang tính cách rất đặc biệt. Thế thì phái đoàn Việt Minh có ít nhất hai tấm hình để làm bằng chứng Mỹ ủng hộ, mặc dù Mỹ không hề đặt chân tham dự cuộc biểu tình nghênh đón.

Để đánh động thêm lòng hâm mộ Hoa Kỳ, mong rằng phái bộ OSS sẽ hiện diện một cách trịnh trọng trong ngày 2/9/1945 cùng với Hồ Chí Minh, 4 ngày sau, 30/8/1945, Việt Minh lại tổ chức thêm một cuộc biểu tình khác ngay tại Hà Nội để chống Pháp. Biểu ngữ có họ Hồ, cờ đỏ sao vàng, hình vẽ người dân bị Pháp hành hạ…Hình sau đây trong “Why Vietnam“, sau trang 234:

Đến đây người đọc sẽ viễn tượng ra ngày 2/9/1945 thế nào rồi! Trong khí thế chống đối lên án người Pháp, người dân đang náo nức chờ xem “đồng minh Hoa Kỳ” tỏ lộ như thế nào trong ngày quan trọng này, nhưng cuối cùng thì không có sự hiện diện của người Mỹ trên  sân khấu Ba Đình! Chỉ có một nhóm nhỏ đứng trong đám đông dưới khí hậu nóng bức của mùa thu Hà Nội, trong đó có thiếu tá Patti và đại úy Grelecki. Tài liệu video ghi lại cảnh ống kính camera cứ chăm chú vào mấy người Mỹ này mà quay phim, đoàn diễn hành trong lễ phục cứ đi qua đi lại nhiều lần trước mặt những sĩ quan tình bào này. Nhân chứng Grelecki cười to và kể lại như thế trong đoạn phim tài liệu. Người ta còn thấy nhiều biểu ngữ tiếng Anh hoan hô Hoa Kỳ, ngay cả biểu ngữ thật to quanh khán đài “THE DOC LAP”, nửa Anh nửa Việt.

Đến đây trong sự suy luận tầm thường thôi cũng biết rằng người Mỹ đã không đến dự ngày 26/8/1945 thì chẳng lẽ lại đến tham dự ra mắt với ông Hồ trên khán đài ngày 2/9/1945. Hồ Chí Minh bối rối lắm, ngay lúc đứng trên sân đài đọc diễn văn, chắc chắn là vậy. Công trình cực khổ cả mấy tuần trước để chỉ mong Mỹ đứng chung với Hồ tuyên bố công nhận “chính phủ”, hoá ra chỉ có vài ba người Mỹ đứng dưới đám đông quan sát mà thôi. Võ Nguyên Giáp cũng đoán được tình hình nên lời kêu gọi được đăng trên báo “Cứu Quốc” cũng rất thiết tha. Đoàn kết để cứu vãn tình thế, phải dấu thật kín hai chữ “cộng sản” để dễ hợp tác với các thành phần quốc gia, “mở rộng phạm vi” là vậy.

Thất bại ngay ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh tính sang một thủ đoạn khác, một kế sách khác: Đi đêm với viên đại diện Pháp, Jean Sainteny, mong Pháp quay đầu trở lại Việt Nam.

Sainteny lại là đảng viên Đảng Xã Hội nên việc giúp Hồ, một thủ lãnh Đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng không có gì vô lý. Hơn nữa, và quan trọng không kém, tại Pháp hiện trong giai đoạn này Đảng Xã Hội đang nắm quyền quốc hội, đứng đầu bởi thủ tướng Felix Gouin (1/1946 – 6/1946). Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản sau sát nhập như một. ” Ngày 16/2/1946, hai bên đi đến chỗ chấp nhận nguyên tắc sơ lược: Việt Nam độc lập trong liên hiệp Pháp” (Sử Địa 12ab, nhà xuất bản Trường Thi, Saigon,1974.) Cũng theo sử liệu này, Hồ Chí Minh bị nhiều phản đối trong nội bộ Việt Minh và các khối chính đảng. Hồ phải thành lập và điều chỉnh “Chính Phủ Liên Hiệp” để câu thời gian vận chuyển tình hình.

Ngay lúc đang thảo luận thì tàu Pháp ra Bắc. Ngày 6/3/1946, tàu Pháp theo sông cửa Cấm vào Hải Phòng, nhưng bị quân Trung Hoa chận lại và đánh vào tàu Pháp. Cuộc chạm súng ngắn ngủi. Pháp thoát lui chờ đợi. Được tin này, Sainteny và Hồ Chí Minh ký ngay Hiệp Ước Sơ Bộ.

Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 nhấn mạnh sự công nhận của chính phủ Pháp đối với nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” do Hồ Chí Minh lãnh đaọ, và gồm một số điều khoản chia chát quyền lợi hai bên, cho phép Pháp được ở lại Việt Nam 5 năm, rồi sau đó điều đình tiếp.Việc Pháp về thay thế quân Tưởng để thu dẹp tàn quân Nhật chỉ được ghi ra trong hiệp ước mà thôi, hay nói đúng hơn, đó chỉ là cái cớ để tuyên truyền lý do tại sao Hồ mang Pháp trở lại lần hai để cai trị.

Ngay ngày hôm sau, taị Hà Nội, Việt Minh tổ chức lễ Pháp tuyên bố công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh. “An Encyclopedia of World History, List of Events, 1945-1946,” có ghi:”Mar. 7, France recognized the Vietnam Republic as a free state but retained the right to defend it. French troops moved into this area of Indo-China March 8 without meeting resistance from the Annamese.” Nếu đã có hiện tượng Pháp trở lại Việt Nam để thay thế quân Tưởng (có sách cộng sản ghi Việt Minh đẩy lùi 20 ngàn quân Tưởng ra khỏi Việt Nam) thì quyển tự điển thế giới này đã ghi ra rồi.

Hiệp Ước Sơ Bộ có những điều khoản mà thống đốc D’argenlieu chống đối. D’argenlieu, không muốn thống nhất ba kỳ mà đòi Nam Kỳ tự trị. Việc bàn luận nội dung hiêp ước chưa đi đến kết quả gì chắc chắn. Vả lại, vì  hiệp ước là sơ bộ nên không có gì ràng buộc nên phải gặp quốc hội để có tính pháp lý. Được biết khi D’argenlieu tới Hà Nội để gặp Hồ Chí Minh về vụ Hiệp Ước Sơ  Bộ thì để đánh phủ đầu ông thống đốc, Hồ ra lệnh treo cờ, hoa giăng, biểu ngữ đầy đường coi như mừng ngày sinh nhật của ông ta. Có phải ông Hồ làm ra hiện tượng này để cho D’argenlieu thấy rằng dân chúng đang ủng hộ ông ta thì D’argenlieu nên chấp nhận cái hiệp định ấy đi. Đó là ngày 19 tháng 5, 1946, mà sau này Đảng dùng làm ngày sinh của ông Hồ một cách chính thức.

Ngày 28/5/1946 phái đoàn Việt Minh do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Pháp dự hội nghị tại Fontainebleau. Hồ Chí Minh cũng sang Pháp, nhưng đi riêng. Như vậy là thế nào? Hồ đã đoán được Phạm Văn Đồng thất bại nên phải làm một kế sách khác để cứu vãn tình hình.

Thật vậy, Hồ Chí Minh đã đoán đúng. Phái đòan Phạm Văn Đồng lủi thủi ra về trước sự hờ hững của quốc hội Pháp. Tại sao? Xin trích lại nguyên văn một đoạn sau đây trong “Đồng chí Hồ Chí Minh“, tác giả cộng sản E-Cô-bê-lép, trang 323:

“Những người cộng sản Pháp đã làm hết sức mình để buộc hội đồng chính phủ phải chú ý đến ý kiến của đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Tiếc rằng, Đảng cộng sản Pháp không chiếm được ưu thế trong nội các. Mùa thu 1946, những kẻ tán thành đường lối cứng rắn đối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chiếm ưu thế trong các giới chính phủ Pháp. Chính vào lúc này vũ đài chính trị Pháp ngả về phe hữu. Trong cuộc bầu cử ngày 2 tháng 6, Đảng cộng sản và Đảng xã hội Pháp mất đa số trong quốc hội lập hiến và ủy ban hiến pháp, còn người đứng đầu chính phủ không phải là đảng viên xã hội như trước đây nữa mà là Bi-đôn, thủ lãnh Đảng phong trào cộng hoà bình dân thuộc phái tăng lữ.”

 

Giáo sư William Duiker trong sách “Ho Chi Minh A Life” cũng đã đưa ra hình ảnh và những chứng minh khoa học về hiện tượng Fontainebleau này (Ho Chi Minh, William Duiker, trang 426).

Dich: Vào đầu tháng 6, 1946, đại diện nước Pháp, ông Jean Sainteny đưa Hồ Chí Minh đi từ thành phố Biarritz đến Paris để dự hội nghị hoà bình tại Fontainebleau. Tại đây, ông Hồ và Sainteny chờ đợi máy bay đến khi đang ngồi trong phi trường tại Paris. Sainteny, trong hồi ký của ông, đã ghi lại là Hồ Chí Minh tỏ ra lo sợ một cách lạ lùng trên vấn đề hội họp tại Fontainebleau.

Thật vậy, chẳng những ông Duiker diễn tả ông Hồ tỏ ra lo sợ một cách lạ lùng còn cho người đọc thấy hình ảnh Hồ chụp với Sainteny tại phi trường Paris với gương mặt vô cùng bất bình thường.

 

Thêm một chứng minh hùng hồn khác trong sách “Hỏi và Đáp về Cuộc Đời và Sự Nghiệp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Viện Bảo Tàng HCM, nxb Trẻ, 1999.” ” Hỏi: Tạm ước 14-9-1946 do ai ký? Nhằm mục đích gì? Đáp: Tạm ước 14-9-1946 do Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp. Đây là một sách lược ngọai giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm làm cho nhân dân ta có thêm thời gian để chuẩn bị tòan quốc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.”

Rõ ràng, quốc hội Pháp nay không còn lãnh đạo bởi phe Đảng Xã Hội và Cộng Sản nữa nên việc “liên hiệp Pháp” của Hồ Chí Minh coi như không thể thực hiện một cách lâu dài như dự tính trong Hiệp Ước Sơ Bộ. Con đường cùng, Hồ tìm đến gặp Bộ Trưởng Thuộc Địa, ông Marius Moutet, cũng là đảng viên Xã Hội. Hồ Chí Minh gõ cửa nhà Moutet lúc 2 giờ sáng, 14/9/1946, để hai bên ký một “tạm ước”, có tên “Modus Vivendi”, trong đó gồm 11 điều khoản có lợi hai bên. Tuy nhiên, tạm ước này không có giá trị gì cả, bởi Moutet không phải là đại diện của quốc hội Pháp, ông chỉ là một viên chức của bộ thuộc địa mà thôi, cũng là phe cánh của Hồ Chí Minh thời gian Hồ còn bên Pháp hoạt động trong Đảng Cộng Sản.

Đảng giải thích trong sách giáo khoa cho rằng Hồ Chí Minh có “sách lược ngọai giao tài tình” để “có thêm thời gian” chuẩn bị thật quả đúng không sai chút nào. Đi nài nỉ không thành công, biết mình đã bị bỏ rơi, bị “phe hữu” lên nắm quyền chống lại “phe tả” (tức cộng sản) nên Hồ đăm ra bối rối, và trong cơn túng quẩn phải làm một cách vá víu là tìm gặp Moutet ký tạm ước vô giá trị này để “câu giờ.” Nhiều sách báo của cộng sản cũng hay đề cập tới 4 tháng ông Hồ ở bên Pháp để vận động. Sách ghi khá chi tiết về những nhân vật Hồ Chí Minh gặp. Họ không ai khác hơn là các thành phần của Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản Pháp. Ngay cả lúc trở  về Việt Nam, ngày 22 tháng 9, 1946, ông Hồ còn nương níu một lần chót bằng cách viết thư cho một “đồng chí” người Pháp là bà Sô-Dít (không biết tên thật đánh vần thế nào, đây là cách viết tên người Pháp của ông Hồ) để mong bà ta giúp đỡ làm cách nào để Pháp hợp tác với “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.”

Tiếp theo là cuộc xung đột xảy ra giữa hai phe: Pháp và Việt Cộng. Ngày tuyên chiến đầu tiên 19/12/1946.

Hồ Chí Minh bấy giờ bắt đầu đổi chiến thuật tuyên truyền: hô hào toàn dân chống Pháp với chiêu bài Pháp trở lại xâm lược. Nhưng người ta tự hỏi: tại sao mới ngày nào đây từ 6/3/1946, tức trong vòng 8 tháng nay phe Việt Minh và Pháp là một, thậm chí Việt Minh còn mượn tay Pháp sát hại các đảng phái quốc gia, tiêu diệt đến tận cội rễ, nay sao lại tuyên chiến là thù địch? Trong dân gian thành Hà Nội thời đó có truyền nhau câu ca dao:” Mộ Quỳnh cỏ mọc còn xanh. Hỏi ai bán nước: ấy anh già Hồ.” Phạm Quỳnh bị lên án thân Pháp và bị sát hại ngày 6/9/1945, nhưng rồi mộ chôn ông còn mới, cỏ mọc còn xanh tươi, thì chính người lên án và ra lệnh giết Phạm Quỳnh với tội thân Pháp lại mang Pháp về. Hồ cùng phe với Pháp một thời gian, sau đó lại quay sang chống Pháp. Lý do của sự thay đổi như trở bàn tay của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này đã được trình bày trên.

Chiêu bài “chống Pháp xâm lược” của Hồ Chí Minh mà cũng có hàng triệu triệu người tin và nghe theo. Nếu chịu suy  nghĩ một chút thì thấy ngay sự lường gạt của ông Hồ, nhưng thời đó đại đa số chống Pháp như truyền thống, không biết rằng Pháp của thời thực dân trước 1945 và Pháp sau thế chiến thứ 2 hoàn toàn khác nhau. Bắt đầu năm 1946, Pháp cũng như tất cả các nước có thuộc địa như Pháp, Tây Ban Nha, Anh…đều bị ràng buộc bởi quốc tế và ký trả lại độc lập cho những nước thuộc địa, trong đó có Philippines, Ấn Độ, Lebanon, Syria, v.v…Còn Việt Nam thì Pháp đã ra sau khi Nhật đảo chánh Pháp và chính vua Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 11/3/1945. Vua Bảo Đại đã xé hòa ước 1884 giữa Pháp và Việt Nam. Thế giới tự do sau thế chiến thứ 2 phải đương đầu với sự bành trướng của làn sóng cộng sản, nhất là ở Âu Châu, và sau đó là Á Châu mà Hồ Chí Minh là một lãnh đạo sừng sỏ có thành tích hoạt động cho quốc tế cộng sản hơn 30 năm.

Hồ hô hào Pháp trở lại “thực dân” và “xâm lược” khi không trả lời được sự mâu thuẫn. Chính Hồ Chí Minh đã ở Pháp 4 tháng (từ 6/1946 – 9/1946) để vận động kêu gọi các đồng chí của ông ta giúp làm mọi cách để Pháp chấp  nhận “chính phủ” của Hồ, làm mọi cách để thực hiện Hiệp Uớc Sơ Bộ 6/3/1946, để hai bên Pháp và Việt Minh cùng hưởng lợi. Nếu Pháp có ý đồ thực dân hay xâm lược thì dĩ nhiên nên chấp nhận cái Hịêp Uớc Sơ Bộ đó ngay, không phải bị mang tiếng như trước đây, vì Pháp được “mời” về cai trị tiếp. Nhưng không, vào tháng 6/1946, khi chính phủ mới của Pháp, dẫn đầu là thủ tướng Georges Bidault (6/1946 – 11/1946), đã công khai chống Hồ Chi Minh với lý do Hồ là cộng sản. Dẫn chứng được trình bày rõ mà E-Cô-bê-lép đã ghi trong sách được trích ở trên.

Việt Minh không hẳn tất cả là những người cộng sản. Một số đông là những thành phần yêu nước thật sự. Họ tham gia chống Pháp coi như là bổn phận, nhưng rồi sau đó có thể lầm lẫn nghe theo cộng sản, hoặc bị lôi cuốn vào quỹ đạo với thời gian và hoàn cảnh. Đáng ghi nhận hơn hết trận chiến đầu tiên phân ranh quốc cộng phải là trận chiến này. Chiến tranh kéo dài từ 12/1946 đến 5/1954, kết thúc tại Điện Biên Phủ.

Cộng sản thường huyênh hoang chiến tranh 1946-1954 có mục đích giành độc lập, giành lại chủ quyền từ tay người Pháp. Phần trình bày trên đã chứng minh Hồ Chí Minh bắt buộc phải đương đầu với Pháp vì Pháp đã tuyên chiến trước. Pháp đánh Hồ Chí Minh vì Hồ là cộng sản, là đe dọa cho hoà bình thế giới. Đó không phải là cuộc chiến tranh giành độc lập, một cách hiển nhiên là như thế.

Thật ra, trận Điện Biên Phủ không phải là sự thành công hoàn toàn của phe cộng sản Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã nhận chỉ thị từ Trung Cộng; thêm vào, Trung Cộng tiếp tế súng đạn và nhân sự cho trận chiến. Sự chiến thắng đó xem ra cũng chưa hẳn vẻ vang khi đã thiêu đốt hằng ngàn thân xác một cách vô thương tiếc với chủ trương “biển người” (human wave) của cộng sản. ” Thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng” mà Võ Nguyên Giáp đã nêu lên trong lời kêu gọi là vậy.

Trở lại lúc Hồ Chí Minh tại Pháp năm 1946, khi vận động tìm phe ủng hộ. Hồ đã gặp ông tướng Salan. Ông Salan đã nói:” We are going to fight each other, and it will be very difficult – Chúng ta sắp đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn.” “Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight…You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired. – Hơn nữa, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet là “Nếu chúng tôi đánh, chúng tôi sẽ đánh…Các ông giết chúng tôi 10 người và chúng tôi chỉ giết 1 người của phe ông, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi…”” (trang 120, Ho Chi Minh, Pierre Brocheux). Điều này chứng tỏ ông Hồ đã có trong đầu chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” và “biển người” từ lâu. Thân phận người Việt Nam trong cuộc chiến chỉ là con vật hy sinh để Hồ bước lên địa vị lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và làm theo lệnh quốc tế cộng sản.

Có người đặt câu hỏi: khi nói Hồ Chí Minh chống Pháp thì phải hỏi là Pháp nào? Pháp cộng sản hay Pháp quốc gia? Thật vậy, những gì người viết trình bày trên đã cho thấy gian hùng Hồ Chí Minh và tập đoàn đã lộ hẳn bộ mặt vong bản, sẵn sàng làm nô lệ cho bất cứ ai miễn sao bảo đảm được quyền lợi thống trị của Đảng. Chủ trương của cộng sản biến thái từng giai đoạn, đu giây để được tồn tại. Một mặt thì hô hào tiêu diệt kẻ thù, mặt khác thì xin xỏ được làm bạn với chính kẻ thù đó, như trường hợp Hồ Chí Minh đối với Hoa Kỳ và Pháp. Hồ theo Pháp mang Pháp về cai trị vì Pháp đó là Pháp cộng sản, Pháp của Đảng Xã Hội. Hồ chống Pháp vì quốc hội Pháp chuyển sang thành phần “phe hữu” chống cộng sản.

Tóm lại, trận chiến 1946-1954 là trận chiến đầu tiên phân ranh quốc cộng; và cho đến hôm nay cuộc chiến quốc cộng vẫn còn đang tiếp diễn. Bổn phận người dân có trách nhiệm với quốc gia dân tộc, nhất là những ai còn mù mờ tin theo cộng sản, xin hãy tìm hiểu sự thật để có hành động thích đáng trước tình cảnh đất nước hiện tại. Không thể tôn vinh những điều sai trái, ngụy biện. Hành động bán nước hại dân lại được đặt tôn là vì đất nước dân tộc. Hơn trên tất cả, chủ nghĩa cộng sản lỗi thời, cộng thêm tính vô nhân bản, mà Hồ Chí Minh mang vào áp đặt bằng bạo lực lên dân tộc Việt Nam, không một kẻ có lương tâm lương tri nào chấp nhận được. Chiêu bài Hồ Chí Minh có công đánh đuổi Pháp để giành lại quyền độc lập có đủ để tha thứ cho những cái tội quá lớn không?

Bút Sử

8/2007

War Against Communism in Vietnam 1946-1954

Brief explanation about  Ho Chi Minh during 1945-1946

Evidences

March 9, 1945: Japanese overthrown French (being fear the Allies marching to Indochina)

March 11, 1945: Emperor Bao Dai declared Vietnam Independent. The protectorate treaty 1884 between French and Vietnam was torn up. Continue reading

Cuộc Chiến Tranh Ý Thức Hệ:1946-1954

Sự thật về Hồ Chí Minh đã được phơi bày càng ngày càng nhiều qua những hệ thống thông tin rộng rãi. Người ta đã biết ông Hồ có nhiều vợ, ít nhất 2 người con. Chính ông và Đảng dựng Hồ thành một người làm thơ có tầm vóc, tạo ra ấn tượng “nhà văn hóa lớn“, nắn nót Hồ thành một người có hoài bảo, một thanh niên tuổi còn rất trẻ đã biết lên chiếc tàu Pháp ra đi “tìm đường cứu nước”, v..v. Tuy nhiên, có một số sự kiện lịch sử mà Đảng dựa vào nhiều nhất để tiếp tục tuyên truyền. Bài viết này khai thác thêm những sử kiện tạo nên cuộc Chiến Tranh Đông Dương đầu tiên và ý nghĩa của nó để mong soi sáng thêm dòng lịch sử cận đại .

Sau khi Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon phổ biến DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” thì tại Việt Nam các báo Đảng phản ứng bằng những bài viết bôi lọ và xuyên tạc, cũng như các cán bộ nằm vùng tại hải ngoại tung bài trên mạng internet để chỉ trích. Đồng ý rằng không một bộ phim nào có thể đưa lên tất cả mọi mặt trên một vấn đề, kể cả các phim ngoại quốc, nhưng nhóm thực hiện phim đã được sự hưởng ứng cao độ từ các thành phần trong nhiều cộng đồng trên thế giới. Nhiều lần linh mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện cho Phong Trào, đã gợi ý rằng phim mục đích chánh dành cho người Việt trong nước và giới trẻ sinh sau đẻ muộn chưa biết gì về ông Hồ, hoặc có biết thì chỉ là tuyên truyền một chiều từ Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.

Khi lướt qua một số ý kiến, có thể là của giới trẻ trong nước về phim, người ta nhận thấy là thành phần chống lại phim nêu ra một vài luận điệu:

-Chấp nhận những gì phim trình bày là sự thật.
– Hồ Chí Minh phải theo cộng sản để được quốc tế cộng sản hỗ trợ sau khi cướp chính quyền, bởi vì chính phủ Mỹ đã không giúp Hồ Chí Minh.
-Dù sao thì Hồ Chí Minh cũng có công trong cuộc “kháng chiến giành độc lập.”

TẠI SAO HOA KỲ KHÔNG CHẤP NHẬN HỒ CHÍ MINH?

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền Trần Trọng Kim 19/8/1945, Hồ Chí Minh ra công vận động ráo riết để mong Hoa Kỳ công nhận “chính phủ” ông sắp ra mắt trước công chúng. Việt Minh đã tổ chức những buổi xuống đường “hoan hô phái bộ đồng minh OSS” (Office of Strategic Services – Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ) nhưng hoàn toàn thất bại. Rõ ràng nhất ngay ngày 2/9/1945, Mỹ đã không hiện diện tại Ba Đình, ngoại trừ 4 nhân viên của OSS đứng trong đám đông, nơi diễn ra đại lễ gọi là Hồ Chí Minh đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập.”

On 23 September 1945, with the knowledge of the British Commander in Saigon, French forces overthrew the local DRV government, and declared French authority restored in Cochinchina (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Bacground to the Crisis 1940-50, Boston: Beacon Press, 1971).Vào ngày 23/9/1945, với hiểu biết sâu rộng của chỉ huy trưởng lực lượng quân đội Anh tại Saigon, quân Pháp đã đánh bại thành phần cộng sản tại địa phương (thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – con đẻ của cộng sản miền Bắc), và Pháp tuyên bố tái lập quyền lực tại Đông Dương.
Sự kiện trên cho chúng ta thấy rằng, Pháp trong thế phải trở lại Đông Dương (theo chân Anh sau Thế Chiến Thứ 2 với nhiệm vụ giải giới tàn quân Nhật ở miền Nam chiếu theo hội nghị Potsdam) để đương đầu với làn sóng cộng sản, mà ngay lúc này Hồ Chí Minh đang nắm quyền lãnh đạo tại miền Bắc.
Vào 10/1945, Hoa Kỳ đề ra trong văn kiện về chính sách trước hiện trạng tại Việt Nam:
US has no thought of opposing the reestablishment of French control in Indochina and no official statement bv US GOVT has questioned even by implication French sovereignty over Indochina. However, it is not the policy of this GOVT to assist the French to reestablish their control over Indochina by force and the willingness of the US to see French control reestablished assumes that French claim to have the support of the population of Indochina is borne out by future events.(The Pentagon Papers) – Hoa Kỳ không có ý chống lại sự tái lập lực lượng của Pháp tại Đông Dương và không có một văn kiện chính thức nào từ chính phủ Hoa Kỳ đặt nghi vấn ngay cả không có ngầm ý gì về chủ quyền của Pháp tại Đông Dương. Tuy nhiên, đó không phải là chủ trương của chính phủ để hỗ trợ Pháp tái lập quyền hạn trên Đông Dương bằng vũ lực, và Hoa Kỳ muốn thấy Pháp đưa ra yêu sách là có sự ủng hộ của dân chúng vùng Đông Dương bằng những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai.
Thái độ của Hoa Kỳ lúc này không chính thức 100% ủng hộ Pháp trở lại đương đầu với công sản, nhưng mặt khác thì đã mặc nhiên thoả thuận. Vấn đề phức tạp trong giai đoạn này là những năm từ 1941 đến 4/1945, Hoa Kỳ, Anh, và Pháp đã liên tiếp họp bàn về vấn đề trao trả độc lập cho các quốc gia bị thuộc địa, nhưng trước vấn đề Thế Chiến Thứ 2 và sự bành trướng của làn sóng đỏ mà đến đầu năm 1945 các thoả thuận cũng chưa kết thúc, mặc dù Anh-Pháp trong tinh thần đã bằng lòng trên cách giải quyết đó. Sau khi tổng thống F.D. Roosevelt qua đời vào 12/4/1945, trong hoàn cảnh bắt buộc mà tổng thống kế nhiệm, Truman, đã không tiếp tục “chính sách ép buộc các quốc gia có thuộc địa trao trả độc lập cho dân bản xứ” của cố tổng thống Roosevelt.
Một hội nghị tại San Francisco 25/4/1945 – 26/6/1945, quy tụ 50 quốc gia, bàn về nhiều vấn đề liên quan tới Thế Chiến Thứ 2 và giới hạn của 5 quyền lực trên thế giới, bàn về thực dân trao trả độc lập cho dân bản xứ, trong đó có đặt vấn đề phức tạp xảy ra tại Việt Nam. Tường trình của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Stettinius: Bidault cảm thấy nhẹ nhõm khi được Hoa Kỳ xác nhận quyền tái lập lực lượng tại Đông Dương. Georges Bidault là Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp được thủ tướng Charles de Gaulle chỉ định vào 25/8/1944 trong chính phủ lâm thời, sau khi nước Pháp được giải toả (Chính phủ Bidault, 6/1946, là cái gai của Hồ Chí Minh cũng là nguyên nhân cuộc chiến 1946-1954, sẽ chi tiết thêm ở phần sau).Từ các sử kiện trên cho thấy độ mềm dẽo và cứng rắn của Hoa Kỳ như thế nào đối với Anh-Pháp và với Hồ Chí Minh. Sự đoán trước và ngăn ngừa của phe Anh-Pháp-Hoa Kỳ đã xảy ra trong thực tế – thế lực đỏ của Staline ở Âu Châu và Hồ Chí Minh (với hỗ trợ của Mao) ở Đông Dương.
Although American OSS representatives were present in both Hanoi and Saigon and ostensibly supported the Viet Minh, the United States took no official position regarding either the DRV, or the French and British actions in South Vietnam. (The Pentagon Papers) – Mặc dù những đại diện của tình báo Hoa Kỳ OSS đã hiện diện tại Hà Nội và Saigon và bề ngoài có vẻ ủng hộ Việt Minh, Hoa Kỳ không có một vai trò gì đối với phe Hồ Chí Minh, hay những hoạt động của cánh Pháp-Anh.
Hoa Kỳ ra vẻ ủng hộ Việt Minh vì Hồ Chí Minh bắt đầu 4/1945 là nhân viên của OSS, làm công tác qua lại giữa ranh giới Trung Việt. Hoa Kỳ đã biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một quốc tế cộng sản đang hoạt động tại Đông Dương, nhưng vẫn xử dụng ông Hồ trong lúc chiến tranh với Nhật. Vào 3/1945, Charles Fenn, thuộc OSS, đã gặp Hồ tại Côn Minh cũng đã có những trao đổi trên vấn đề Hồ là một người cộng sản.
Sau khi tuyên bố “độc lập” và không được quốc gia nào công nhận, Hồ Chí Minh liên kết ngay với phe Pháp cộng, ký với đại diện Pháp Jean Sainteny Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946, mang Pháp về với mục đích để Pháp công nhận, thứ đến Pháp chính thức cai trị Việt Nam bên cạnh chính phủ cộng sản của Hồ Chí Minh, và dùng bàn tay Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia chống cộng sản. Lập luận cho rằng Pháp về lúc này để thay thế quân Tưởng là không đúng trên nguyên tắc vì D’argenlieux và phe Tưởng, vào 2/1946, đã ký thoả thuận về ngày quân Tưởng rút khỏi miền Bắc. Cần lưu ý là Quốc Hội của nước Pháp ngay trong giai đoạn ngắn ngủi này do thành phần đảng Xã Hội và Cộng Sản nắm quyền, lãnh đạo của chính phủ lâm thời là Felix Gouin (26//1/1946- 24/6/1946) sau Charles de Gaulle.
From the autumn of 1945 through the autumn of 1946, the United States received a series of communications from Ho Chi Minh …pleading for U.S. recognition of the independence of the DRV…. But while the U.S. took no action on Ho’s requests, it was also unwilling to aid the French (The Pentagon Papers). Từ mùa thu 1945 tới mùa thu 1946, Hoa Kỳ nhận liên tiếp nhiều thông tin từ Hồ Chí Minh cầu xin Hoa Kỳ công nhận sự độc lập của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa…Nhưng trong khi Hoa Kỳ không trả lời về những đòi hỏi của Hồ, đồng thời chính phủ cũng không có ý trợ giúp Pháp.
Mùa thu 1946 là giai đoạn Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn về phương diện ngoại giao: đang bị Hoa Kỳ tiếp tục làm ngơ, còn chính phủ lâm thời Pháp thì đang ở giai đoạn bầu cử và phe cứng rắn chống cộng đã nắm quyền quốc hội.

Đến đây cũng đủ để chứng minh rằng ngay từ ngày quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh trở về Vìệt Nam (1941) sau hơn 30 năm ở nước ngoài và một quãng dài ít nhất 25 năm hoạt động trọn thời gian cho quốc tế cộng sản, thế giới đã biết ý đồ của ông khi quay đầu trở lại Việt Nam. Lý luận cho rằng vì Hoa Kỳ không công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh nên đường cùng ông phải theo cộng sản là một lập luận rất khập khểnh, không dựa vào những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Hơn nữa, rất nhiều sách báo Đảng ca ngợi vai trò quốc tế cộng sản của ông Hồ.
CUỘC CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ
Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946, ký giữa 2 phe Pháp ( chính phủ Gouin thân cộng) và Hồ Chí Minh kéo dài đến tháng 5/1946 vẫn chưa đi đến kết quả cụ thể, vì chính phủ Pháp đang thay đổi thành phần lãnh đạo. Ngày 28/5/1946, Phạm Văn Đồng được lệnh hướng dẫn phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau để mong chính thức hoá Hiệp Ước Sơ Bộ, nhưng thất bại hoàn toàn vì lập trường chống cộng của chính phủ vừa đắc cử do Georges Bidault lãnh đạo.
Ngay trước khi sang Pháp, 31/5/1946, Hồ Chí Minh viết một lá thư gởi dân miền Nam, trong đó có câu “Tôi xin hứa với đồng bào rằng HỒ CHÍ MINH không phải là người bán nước.” Tại sao ông Hồ phải nhắc tới 2 chữ “bán nước”? Thực ra thì Hồ đã bị dân miền Bắc gọi là “Hồ Chí Minh bán nước” sau vụ ký Hiệp Ước Sơ Bộ, nên có thể ông vẫn còn mang mặc cảm về hành động phản quốc này.
Hồ Chí Minh đến Pháp lúc này, nhưng đi riêng. Phái đoàn Phạm Văn Đồng trở về Việt Nam, và ông Hồ đã ở lại Pháp 4 tháng ra công vận động các bạn bè cũ thuộc cánh cộng sản và xã hội.
The night before Ho was to return to Vietnam, Salan said to him – and Ho must have known it was true – “We are going to fight each other, and it will be very difficult.” Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight…You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired.” (Ho Chi Minh, by Pierre Brocheux, page 120) Đêm trước khi Hồ trở về Việt Nam, Salan nói với ông ta – và Hồ đã biết đó là sự thật – “Chúng ta sẽ đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn.” Thực vậy, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet, “Nếu chúng ta phải đánh nhau, chúng ta sẽ đánh….Các ông sẽ giết 10 người của chúng tôi và chúng tôi sẽ giết 1 người của các ông, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi.”
Mẩu đối thoại này đã đi vào lịch sử để chứng minh thái độ của chính phủ Pháp (Georges Bidault lãnh đạo) đối với cộng sản. Tướng Salan đã thẳng thắn tuyên bố chiến tranh với phe Hồ Chí Minh qua một lý do đơn giản: Hồ Chí Minh là một quốc tế cộng sản, một đe doạ cho nền hoà bình và an ninh của thế giới tự do.
Biết mình bị tấn công, nhưng ông Hồ vẫn còn trong tâm trạng nương níu hy vọng vào một cái gì đó dù rất là mơ hồ. Giờ phút cuối cùng trong 4 tháng vận động, Hồ đã đến nhà ông Moutet vào quá khuya ngày 14/9/1946 để 2 bên ký một tạm ước modus vivendi, nội dung tương tự Hiệp Ước Sơ Bộ gồm 11 điều khoản chia chát quyền lợi hai bên. Moutet một đảng viên Đảng Xã Hội, thân cộng, là Bộ Trưởng Bộ Thuộc Điạ, ông ngượng ép ký văn bản này dù biết không giá trị. Đúng vậy, ngày 22/9/1946 Hồ tiếp tục công tác vận động bằng cách viết một lá thư cho một dân biểu quốc hội Pháp, thân cộng, là bà Sô Dít (cách viết của ông Hồ) yêu cầu bà giúp ông làm thế nào để chính phủ Pháp công nhận “độc lập” của “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”.
Trong tâm trạng chuẩn bị cuộc chiến tranh khó tránh khỏi giữa Pháp và Việt Minh hay đúng hơn là cộng sản, không phải giữa Pháp và toàn dân Việt Nam, Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn tuyên truyền, mục đích gây sục sôi lòng thù hận trong dân chúng để đứng lên chống Pháp. “Lời Kêu Gọi Toàn Quốc Kháng Chiến” của Hồ được tung ra ngay sau khi tuyên chiến xảy ra giữa Pháp và Việt Minh ngày 19/12/1946. Đáng ghi nhận ở đây là một số không ít Việt Minh khi gia nhập vào hàng ngũ chống Pháp vì lòng yêu nước chứ không phải vì cộng sản.
Lời trong thư gửi cho bà Sô Dít đầy tính van xin: Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì tức khắc nước Pháp sẽ tranh thủ được trái tim và tình cảm của tất cả người Việt Nam. Và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng khối liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp tự do, vững chắc và anh em. Gần 3 tháng sau, khi không được làm bạn với Pháp thì Pháp trở thành kẻ thù, văn phong của ông Hồ trở nên nặng nề, miệt thị: … có súng thì dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cưú nước…Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Lúc còn ở Pháp vào 13/9/1946, tướng Salan tuyên bố Pháp sẽ đánh Việt Minh, ông Hồ không gì hơn là chấp nhận, nhưng trong tư thế của một lãnh đạo cộng sản được huấn luyện thuần thành, mất hết tính quốc gia dân tộc, không còn nhân bản, dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Phương tiện đó là áp dụng chiến thuật “biển người’ để đạt mục đích là chiến thắng, vũ khí là mạng người dù phải hy sinh hằng triệu. Ông đã nói ra phương cách này trước mặt 2 viên chức cao cấp của Pháp, Sainteny và Moutet- 10 người Việt Nam đổi 1 mạng người Pháp Hồ vẫn quyết tâm chiến đấu tới cùng!
Trong “Why Vietnam” (page 4), tác giả Archimedes Patti, nguyên là trưởng cơ quan OSS, cũng đã ghi nhận tính vô nhân này của ông Hồ:
…that his government’s policy would be one of scorched earth to the end.“..that Vietnam from north to south would be reduced to ashes, even if it meant the life of every man, woman, and child...rằng chính sách của ông ta (Hồ) là một loại “tiêu thổ kháng chiến tới cùng.”…rằng Việt Nam từ bắc tới nam sẽ bị thiêu tan thành tro bụi, ngay cả kể luôn sự sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, trẻ con, v.v..
Thật vậy, có thể nói trong cuộc chiến tranh phân chia lằn ranh quốc cộng từ 1946 -1975, những tang thương, chết chóc, điêu tàn đã chứng minh rõ mồn một về chủ trương của người cộng sản Hồ Chí Minh. Hiện tượng “Mỹ Lai” cũng là kết quả của chính sách “tiêu thổ kháng chiến” của Hồ mà Patti đề cập trên. Cộng sản chọn lựa những nơi như trường học, nhà thờ, nơi làng mạc quy tụ dân cư để đặt căn cứ lôi cuốn đối phương vào chiến trận, mục đích làm chết dân lành vô tội và dùng đó như cái cớ hay vũ khí tuyên truyền.

Ngày đó, người người từ Nam chí Bắc nghe theo ông Hồ vì lòng yêu nước, vì cứ tưởng Pháp trở lại thực dân và xâm lược. Họ đâu biết rằng khi ông Hồ nói “hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước” là ý ông muốn nói “đất nước của quốc tế cộng sản do đàn anh lãnh đạo.” Để rồi 40 năm sau ngày ông Hồ chết, đàn em vẫn trung thành thi hành theo chủ trương của lãnh tụ. Đàn anh Liên Sô không còn nữa thì còn đàn anh Trung Cộng.

Trong vài năm gần đây, vô số những hiện tượng và sự kiện xảy ra cho thấy Trung Cộng đã cầm quyền kiểm soát Việt Nam: Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, đặt cơ sở và dân sự khai thác Bauxit vùng cao nguyên Trung phần, hàng hoá Trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam, bàn tay Trung Cộng nằm trong các cơ quan truyền thông, báo chí,v.v..Và dĩ nhiên, thỉnh thoảng tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn phải lên miền Bắc để được tuân thủ lệnh Bắc triều.

Ông Hồ luôn tạo ra hình ảnh Pháp thực dân và xâm lược bằng những bài viết bịa đặt tuyên truyền. Trên báo “Cứu Quốc” và sau này là “Nhân Dân”, ngay cả có bài viết của Hồ với những dòng “Đề nghị:-Mỗi ngày nên đăng một cái “bảng vàng,” kể một việc oanh liệt trong cuộc kháng chiến. Mục đích cốt để nâng cao chí kháng chiến của dân, tuy dùng cách ‘sùng bái anh hùng.’ Chớ nói tếu quá.” Vô số những câu chuyện “anh hùng” thêu dệt từ trí tưởng tượng của Hồ Chí Minh và các văn công khác như Trần Huy Liệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên… Sau này người ta mới biết Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Tạ Thị Kiều…là những nhân vật “anh hùng” do các cán bộ văn hóa “sáng tạo”.

Khi hô hào toàn dân chống Pháp, và dưới sự cai trị độc tài bưng bít thông tin, những gì xảy ra trên thế giới đều bị che giấu. Hồ Chí Minh đã viết khá chi tiết về năm 1946 cùng những hiện tượng xảy ra trong năm đó, về 4 tháng ở bên Pháp làm gì và gặp gỡ ai, nhưng ông Hồ đã cố tình không nhắc đến vụ Pháp trả độc lập cho Syria và Lebanon 1946, trong khi đó ông lại nhớ ghi ngày Philippines được trả độc lập vào 4/7/1946 và vụ Hoa Kỳ thử bom nguyên tử tại Bikini Atoll vào mùa hè 1946.

Tác giả Brocheux khi ghi nhận “dụng ý” của ông Hồ để người đọc đưa ra những nhận xét chi tiết hơn. Ngay lúc Việt Minh có chiến tranh với Pháp thì trên thế giới lần lượt các nước được thực dân trả lại độc lập. Thế nên nếu Hồ loan tin Pháp đã trả độc lập cho Syria và Lebanon thì dĩ nhiên người ta phải nghĩ Pháp cũng phải trả độc lập cho Việt Nam, đâu cần có cuộc chiến tranh chống Pháp. Hồ Chí Minh ghi ra vụ thử nguyên tử để làm đề tài tuyên truyền Hoa Kỳ chế vũ khí giết người và tạo ra chiến tranh; ngụy tạo hơn nữa, Hồ còn rêu rao là nhờ phong trào chống Pháp giành độc lập của Việt Minh mà Hoa Kỳ đã trao độc lập cho Philippines.

Ý thức của dân chúng, nói chung, về cộng sản độc tài và tự do dân chủ thì non kém, trình độ dân trí còn thấp nên những mê hoặc mà ông Hồ và tập đoàn tạo ra dần dà ăn sâu vào não trạng người dân, nên hầu hết mới không thấy rằng Pháp tiếp tục ở lại tái chiếm Việt Nam để đương đầu với làn sóng cộng sản lan tràn, vì Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thuộc khối quốc tế cộng sản, mối đe dọa cho toàn vùng Đông Dương và ngay cả nước Pháp lúc đó. Tài liêu cho thấy Charles de Gaulle nhiều lần “đe dọa” (black mail) Hoa Kỳ hãy nên hỗ trợ mạnh mẽ hơn về việc Pháp tái chiếm Đông Dương, nếu không thì ngay tại nước Pháp sẽ có tai hoạ cộng sản.

Tổng thống Richard Nixon, tác giả No More Vietnams, 1985 (trang 31):

An obsessive fear of associating with European colonial powers blinded successive American administrations to a very simple fact: Communism, not colonialism, was the principal cause of the war in Indochina – Một nỗi lo ám ảnh khi liên kết với quyền lực của thực dân Âu Châu đã làm đui mù chính phủ Mỹ một cách liên tiếp về một sự việc rất là đơn giản: Chủ Nghĩa Cộng Sản, không phải Chủ Nghĩa Thực Dân, là nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh tại Đông Dương.

Thật vậy, chính trị gia Nixon hiểu sâu sắc về bản chất cộng sản, những bước đi qua của ông là bài học đáng gía cho tổng thống Reagan những năm sau này. Ông Nixon đã nhìn thấy một Hồ Chí Minh thật, một Hồ với nhiều màu sắc, nhiều bộ mặt, một người cộng sản xem nặng việc phục vụ quyền lợi quốc tế nhiều hơn là quốc gia. Ông đã nhận ra rằng nhiều người còn nhìn Pháp khi đánh nhau với phe cộng sản Hồ Chí Minh là hành động “thực dân”. Một sai lầm to lớn mà Nixon nhấn mạnh cần làm sáng tỏ, và nguyên do là những tuyên truyền từ phe cộng đỏ. Cũng vì lý do này đã làm phức tạp thêm sự tiến hành trong cuộc chiến, bởi vì nó đã cho phép những những người cộng sản làm mờ đi vấn đề đang đương đầu.

Nixon nhận xét rằng cuộc chiến tự nó đã khơi nguồn từ trong ước muốn thúc đẩy của Hồ Chí Minh. Đó là ông Hồ muốn có toàn quyền lực độc tài trên đất nước Việt Nam, và chiến tranh kéo dài làm hao tổn vật lực cùng nhân lực. Xảy ra như vậy cũng do Trung Cộng hỗ trợ hùng hậu cho Viêt Minh, đồng thời phe Hồ và Võ Nguyên Giáp dốc toàn lực trong cuộc chiến thiêu thân.
No More Vietnams (trang 32): There is almost nothing in Ho’ s biography to indicate that he placed nationalism above communism. -Trong tiểu sử của Hồ hầu như không có gì để cho thấy rằng ông ta đặt chủ nghĩa dân tộc lên trên chủ nghĩa cộng sản.
Cả đời Hồ Chí Minh, tất cả ý chí, nghị lực, việc làm đều nhằm mục đích phụng sự cho quốc tế cộng sản. Ông xem nhẹ dân tộc, nặng tình với chủ nghĩa cộng sản đúng như tổng thống Nixon đã nhận xét trên.
Hình trên (VN Magazine,8,2006): Hồ (center) and General Vo Nguyen Giap (right) receive advice from Communist China during the French – Indochina War (1949-54). On the wall are portraits of Mao Tse tung and Ho. – Hồ (giữa) và Tướng Võ Nguyên Giáp (mặt) nhận chỉ đạo từ Trung Cộng trong cuộc chiến Đông Dương với Pháp (1949-1954). Trên tường là hình của Mao Trạch Đông và Hồ.
Hồ Chí Minh chỉ được Pháp công nhận trong giai đoạn Hiệp Ước Sơ Bộ ký 6/3/1946, nhưng rồi từ 9/1946 trở về sau “chinh phủ” của ông Hồ coi như bị “thả lỏng.” Mao Trạch Đông nắm quyền Trung quốc vào cuối 1949, liền sau đó, 1/1950, Mao tuyên bố công nhận “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” của Hồ. Ngoài quân sự, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp còn nhận chỉ thị từ cố vấn Trung Cộng như tài liệu ghi trên. Thành phần hy sinh trong chủ trương “biển người” của ông Hồ: (T. Lomperis, From People’s War to People’s Rule (1996): French dead: 92,707, Viet Minh: 500,000, Civilians: 250,000).
Tóm lại, cuộc chiến 1946-1954 bắt nguồn từ tham vọng bành trướng chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh, hay nói cách khác, đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản độc tài và đa nguyên dân chủ.
Bút Sử
14/12/2009