Tag Archives: ho chi minh

Chuyện Quá Nửa Đêm

ho-fontainebleau-conf-1946” I have just signed my death warrant! – Tôi vừa ký bản lệnh tử tội của tôi!” (Ho Chi Minh and His Vietnam, Jean Sainteny, 1972, page 88). Đó là lời của Hồ Chí Minh(HCM) nói ngay tại đầu giường của ông Marius Moutet vào quá nửa khuya ngày 14/9/1946, cách nay đúng 70 năm, sau khi ép Moutet ký Tạm Ước Modus Vivendi.

Tại sao Hồ tự xác nhận hành động tội lỗi của mình là đáng tội chết trước mặt Bộ Trưởng Thuộc Địa Moutet, một người thiên tả cũng là bạn phe cánh của HCM nhiều năm? Trình bày sau đây  dựa vào tài liệu của tác giả nguyên là đại sứ Pháp, trong cuốn sách trên. Continue reading

Advertisements

70 Năm Kể Từ Ngày Bán Nước

Tháng 3/1946 đến 3/2016 là đúng 70  năm. Tháng 3/1946 đánh dấu mốc điểm quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Người dân Hà Nội đã gọi “Hồ Chí Minh bán nước” ngay sau khi Hồ ký Hiệp Ước Sơ Bộ (HƯSB) ngày 6/3/1946 với đại sứ Pháp Jean Sainteny. Điểm qua những hiện tượng xảy ra vào đầu năm 1946 và dẫn đến cuộc chiến tranh Đông Dương vào cuối năm.

 Leclerc, Ho Chi Minh, Jean Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký HƯSB

Picture from Pierre Brocheux book. Leclerc, Ho Chi Minh, Jean Sainteny nâng ly chúc mừng sau khi ký HƯSB.

Những nhà báo quốc tế có mặt tại Hà Nội sau vụ ký HƯSB họ đã chứng kiến cảnh HCM tổ chức tiệc ăn mừng.

…they suddenly saw trayloads of champagne being taken into the paymaster general’s villa, where Ho was living. The journalists hurried inside but too late to witness the initialing ceremony (Ho Chi Minh, Jean Lacouture, page 134)– …họ bỗng thấy những khay nặng của rượu champagne được mang vào tòa nhà, nơi Hồ ở. Những nhà báo vội chạy vào trong nhưng đã trễ để chứng kiến những lời mở đầu của nghi lễ. Continue reading

Nikita Khrushchev Nhận Xét về Hồ Chí Minh

Khrushchev Remembers image on the book

Nikita Khrushchev on cover of Khrushchev Remembers

Vào tháng 8, 1945, nhà văn người Anh George Orwell cho ra đời cuốn “Animal Farm – Trại Thú Vật.”  Hằng nhiều chục năm sau cuốn sách chủ yếu nói về tội ác của chế độ cộng sản độc tài toàn trị vẫn còn giá trị một cách thắm thía. Tác giả bắt nguồn về sự tàn ác của Stalin giai đoạn Spain Civil War bắt đầu 1937 mà phe Stalin đã làm chủ tình hình một khu vực. Cũng vào lúc mùa thu 1945 này, tại miền Bắc nước Việt người cộng sản Hồ Chí Minh (HCM) đang say mê điên cuồng về “thần tượng” Stalin, theo lối đàn anh dùng bạo lực cướp chánh quyền Trần Trọng Kim với mưu đồ nhuộm đỏ Việt Nam và cả Đông Dương. Lòng say mê cuồng bạo về chủ nghĩa và lãnh tụ cộng sản đã gây sự chú ý cho một số nhân vật cộng sản nòi như Stalin và Khrushchev. Continue reading

Văn Hóa Đạo Đức Hồ Chí Minh

Giáo sư Pierre Brocheux tác giả cuốn “Ho Chi Minh a Biography”  có đoạn kể  về  hồi ký của Khrushchev. Khrushchev cho rằng “Hồ Chí Minh (HCM) là một trong số người cộng sản có lý tưởng nhấtHo Chi Minh was truly one of the “saints” of communism” (page 144), nghĩa là ông ta đắm chìm vào những lời giảng dạy về chủ nghĩa cộng sản, và nhất là ngoan ngoãn làm theo đàn anh cấp trên không hề nêu ra ý kiến hay bàn cãi . Khrushchev còn viết rằng “Stalin rất khinh thường Hồ, đến độ gọi Hồ là người cộng sản ngu dốt rừng rú –Stalin showed little sympathy for Ho, whom he called “a communist troglodyte” (page 145).  Ngược lại thì tại Việt Nam dưới chế độ chủ trương ngu dân, nhà nước đã sản xuất ra hàng ngàn danh thơm ngữ đẹp cho HCM, thí dụ như là “văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh.” Continue reading

Sự Khác Biệt giữa Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 và Tạm Ước 14/9/1946

Hiệp Ước Sơ Bộ(HƯSB) 6/3/1946 được ký giữa Hồ Chí Minh (HCM) và đại diện Pháp Jean Sainteny tại Hà Nội. Trong lúc này chính phủ lâm thời ở nước Pháp do Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản lãnh đạo. HCM và Pháp đã có những thỏa thuận qua lại từ tháng 2/1946, trên nguyên tắc Hồ đã chấp nhận tất cả những gì nước Pháp mẹ đề ra, và kết quả của sự thỏa thuận này là HƯSB. Continue reading

Đại Úy OSS Ray Grelecki kể về ngày 2/9/1945

Bối cảnh trước 8/1945.

Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chánh Pháp. Ngày 11/3/1945 vua Bảo Đại xé hòa ước 1884 và tuyên bố Việt Nam độc lập đồng thời chấp thuận cùng Nhật nằm trong khối Đại Đông Á. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập 17/4/1945 gồm những thành phần trí thức yêu nước. Chính phủ thực hiện những chương trình đáng kể trong giai đoạn nắm quyền: sửa đổi hành chánh, hợp nhất hai chính quyền bảo hộ và Nam triều, thay thế công chức Pháp bằng công chức Việt, ra lệnh dạy tiếng Việt tại các trường trung tiểu học, dự định thống nhất luật pháp ba kỳ để tránh lạm quyền về hành chánh và tư pháp, tổ chức đoàn Thanh Niên Tiền Phong, chiến dịch chống nạn đói tại miền Bắc (Việt Sử A/B, nxb Trường Thi, Saigon, 1974). Continue reading

Hồ Chí Minh Mang Pháp Về Lần Thứ Ba

Hiện tại Việt Nam không ít người đang đề cập tới hai chữ “bán nước” liên quan tới vấn đề Đảng Cộng Sản Việt Nam dâng lãnh thổ, biển đảo cho Trung Cộng từ nhiều năm qua. Nay hiện tượng tàu HD 981 đang đóng tại vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam bảo là khoan dầu với lý do hợp tác kinh tế, hay cũng là dấu hiệu chính trị báo cho dân biết Việt Nam đã và đang lệ thuộc đàn anh tới giai đoạn gần hoàn toàn mất nước. Hai chữ “bán nước” cho ngoại bang đã xuất hiện từ 3/1946 khi Hồ Chí Minh(HCM) mang Pháp cộng về Hà Nội để hợp tác mà người ta gọi đó là Pháp trở về Việt Nam lần hai . Khoảng 8 năm sau, tức sau ngày chia đôi đất nước, HCM trân trọng nài nỉ Pháp trở về Hà Nội lần nữa. Đây là lần thứ ba. Pháp này là ai, cũng như tại sao Hồ lại cần họ đến quá mức như vậy? Continue reading

Những Chuyện Bên Lề Hội Nghị Fontainebleau 1946

Thường qua các bài viết người ta chỉ biết Hồ Chí Minh(HCM) thất bại nặng nề tại hội nghị Fontainebleau bên Pháp xảy ra từ 7-9/1946, khi phe bảo thủ lấy lại quốc hội từ phe thiên tả. Những chi tiết 4 tháng HCM ở Pháp không được Đảng Cộng Sản Việt Nam trình bày rõ rệt để thấy ra con người và việc làm thật của ông Hồ. Những chính khách, đồng chí, báo giới nhìn và nhận xét HCM như thế nào? Bài viết này xin đưa ra một số tài liệu cụ thể nhằm soi rọi thêm lịch sử trung thực mà đã nhiều năm bị Đảng xuyên tạc cũng như tạo dựng về con người HCM. Continue reading

Pháp Tái Chiếm Đông Dương

Ông ta (Hồ Chí Minh) quả quyết với họ (người Pháp) “và cả thế giới” rằng Việt Nam từ bắc tới nam sẽ trở thành tro bụi, ngay cả nếu nó có nghĩa cuộc sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, và trẻ con, và rằng chính sách của chính phủ ông ta là một loại “tiêu thổ tới cùng.” Câu nói này từ người mà ông ta là sư tổ của loại ngoại giao lưu manh gian hùng. Tôi biết, đó không là một đe dọa vu vơ, và tôi vẫn nhớ mãi nó tới bây giờ một cách sinh động. Những dòng ghi trên được dịch ra từ cuốn “Why Vietnam”, tác giả Archimedes Patti (page 4), nguyên chỉ huy trưởng tình báo OSS của Hoa Kỳ về buổi đối thoại với Hồ Chí Minh (HCM) tại Hà Nội vào đầu tháng 8, 1945. Như vậy HCM đã đoán biết Pháp quay đầu trở lại tái chiếm Đông Dương, ngay lúc này Hồ đã chuẩn bị chiến tranh.

 

Continue reading

Thủ Đoạn Sửa Nội Dung Hình Ảnh hay Sai Sót?

Từ những hình ảnh và phim chụp trong ngày 2/9/1945 được tạo dựng sửa đổi với mục đích tuyên truyền, còn nhiều hình ảnh khác cũng đã bị thay đổi nội dung, nhất là trong những hiện tượng xảy ra có tầm quan trọng trên vấn đề nói lên tội bán nước hại dân của Hồ Chí Minh(HCM). Phần trình bày sau đây với minh chứng, so sánh, và nhận xét.

Continue reading

Hồ Chí Minh và khối Liên Hiệp Pháp

Có một người lên mạng “search” như thế này: Tại sao Hồ Chí Minh ký hiệp ước công nhận Việt Nam nằm trong khối liên hiệp Pháp? Câu hỏi này có lẽ hơi lạ đối với đa số người trong nước vì nó khơi một ý niệm có một cái gì đó không bình thường, đi ngoài những giảng dạy của thầy cô, của sách báo. Rất nhiều năm hằng triệu sách báo, đài phát thanh, truyền hình, và tất cả sinh viên, học sinh đều không được học cặn kẻ đề tài này như một vấn đề lịch sử cần cho mọi người biết.  Continue reading

Hồ Chí Minh qua Những Nhà Báo, Sử Gia, Chính Trị Gia Thế Giới

Có thể nói chính sách tuyên truyền của cộng sản của các nước nói chung về mặt truyền thông, sách báo, văn nghệ, điện ảnh là hàng đầu. Mặc dù cộng sản Đông Âu và Liên Sô đã tan rã từ nhiều năm nay,nhưng tại Việt Nam thì biểu tượng Hồ Chí Minh (HCM) và hình ảnh búa liềm vẫn còn đó. Continue reading

Võ Nguyên Giáp Cánh Tay Mặt của Hồ Chí Minh

Nhiều sử liệu cho thấy Hồ Chí Minh (HCM) là một khuôn mẫu điển hình nhất theo những gì quốc tế cộng sản đề ra. HCM được cộng sản phương Tây cho các tên như “organic, pragmatic communist,” một người cộng sản rất thực dụng, hành động theo giáo điều;  “ the saint of communism,” một “thánh” của chủ nghĩa cộng sản bởi vì Hồ rất tin tưởng vào những lời vàng ngọc được ghi ra; ngay cả ông thầy vĩ đại của HCM là Stalin cũng phải gọi Hồ là “a communist troglodyte,” một người cộng sản ngu dốt như thời người rừng ở hang động. Tuy vậy, tại Việt nam ông “thánh cộng sản” này được không ít người tôn thờ, thậm chí còn triệt để noi gương. Người đầu tiên đáng ghi nhận phải là Võ Nguyên Giáp(VNG) Continue reading

Hồ Chí Minh Bán Nước Lần Thứ Nhất

hcm-leclerc-sainteny-copyNgày 14/9/1958 Phạm Văn Đồng ký công hàm gửi Chu Ân Lai bằng lòng chấp nhận 12 hải lý trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc về Trung Cộng. Trước đó 12 năm, 14/9/1946, cũng là ngày nói lên một tội trời không dung đất không tha của Hồ Chí Minh. Nếu cho rằng Phạm Văn Đồng ký công hàm bán nước cho cộng sản đàn anh (Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh) thì lúc Hồ Chí Minh (HCM) ký Tạm Ước 14/9/1946, và trước đó là Hiệp Ước Sơ Bộ, 6/3/1946,  với phe Pháp đồng bọn phải coi là giai đoạn HCM bán nước lần đầu tiên. Continue reading

Tại Sao HCM dùng Tuyên Ngôn Độc Lập của HK trong ngày 2/9/45?

Nhiều người đã từng bàn tán về việc lý do gì ông Hồ Chí Minh đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập” trong ngày 2/9/1945 tại Ba Đình, Hà Nội, lại mượn nguyên văn trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ? Mở đầu Hồ Chí Minh đọc: “Hỡi đồng bào cả nướcTất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Câu tiếng Anh là : “All men are created equal. They are endowed by their Creator with certain inalienable rights; among these are Life, Liberty, and the pursuit of Happiness.” Continue reading

Lá Thư Ngày 28/2/1946 của Hồ Chí Minh Gửi TT Truman

Nhân chuyến đến Hoa Kỳ của ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang vào ngày 25/7/2013 vừa qua, ông có trao bản copy lá thư của Hồ Chí Minh (HCM) viết vào 28/2/1946, chúng ta thử tìm hiểu động tác này mang ý nghĩa gì. Lá thư đó nội dung nói lên điều gì? Continue reading

Thời báo Ba Lan ‘xếp hạng’ Hồ Chí Minh đứng tên trong 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỷ 20

HLTL3/16/2013

Hồ Chí Minh- Ảnh trên tờ Polska Times

Hồ Chí Minh- Ảnh trên tờ Polska Times
Tờ Polska Times tức Thời báo Ba Lan hôm 5/3 vừa đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỷ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền của mình đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm máu.
Cũng như nhiều sự bình chọn trước đó của các trang mạng khác, các nhà độc tài thuộc 3 thể chế chính trị: Phát xít, Cộng sản và Quân phiệt.
Những nhân vật của Polska Time như sau:
* 1 – Ismail Enver, Thổ Nhĩ Kỳ, cầm quyền 1913-1918, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,1 đến 2,5 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Armenia
* 2 – Kim Nhật Thành, Bắc Triều Tiên, cầm quyền 1948-1994, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,6 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Triều Tiên
* 3 – Hồ Chí Minh, Việt Nam, cầm quyền 1945-1969, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Việt Nam
*4 – Pol Pot, Campuchia, cầm quyền 1975-1979, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 – 2,4 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Campuchia
* 5 – Saddam Hussein, Irad, cầm quyền 1969-2003, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Kurd
*6 – Yahya Khan, Pakistan, cầm quyền 1969-1971, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 đến 12 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Bangladesh
*7 – Hideki Tojo, Nhật Bản, cầm quyền 1941-1944, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: hành quyết thường dân trong chiến tranh thế giới thứ II.
* 8 – Vladimir Lenin, Nga, cầm quyền 1917-1924, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: nội chiến ở Nga
* 9 – Hoàng đế Hirohito Nhật Bản, cầm quyền 1926-1989, chịu trách nhiệm về cái chết của 6 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát ở Nam Kinh
* 10 – Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc, cầm quyền 1928-1949, chịu trách nhiệm về cái chết của 10 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát tại Đài Loan vào năm 1947
* 11 – Adolf Hitler, Đức, cầm quyền 1933-1945, chịu trách nhiệm về cái chết của 17-20 triệu người; tội ác lớn nhất: Holocaust
* 12 – Joseph Stalin, Nga, cầm quyền 1924-1953, chịu trách nhiệm về cái chết của 40-62 triệu người; tội ác lớn nhất: Trại tập trung Gulag
* 13 – Mao Trạch Đông, Trung Quốc, cầm quyền 1943-1976, chịu trách nhiệm về cái chết của 45-75 triệu người; tội ác lớn nhất: nạn đói lớn và Cách Mạng Văn Hóa.
Cũng cần nói thêm, Polska Times là tờ báo có số lượng truy cập khá lớn. Theo Alexa Ranking, lượng người đọc của tờ này đứng hạng thứ 30.000 trong số hàng chục triệu trang mạng trên toàn thế giới.
© Đàn Chim Việt
Nguyên bản tiếng Ba Lan tại đây

Tại Sao Có Ngày Sinh Nhật HCM 19/5/1946 tại Hà Nội?

Nói về ngày 19/5 khi đề cập tới Hồ Chí Minh thì phải nói tơi hai hiện tượng đặc biệt liên quan tới ngày này. Continue reading

Hồ Chí Minh Có Bao Nhiêu Tên Gọi, Bút Danh, Bí Danh?

       

SAU ĐÂY LÀ TOÀN BỘ TÀI LIỆU ĐƯỢC TÓM TẮT VÀ TRÍCH RA TỪ SÁCH CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM: NHỮNG TÊN GỌI, BÍ DANH, BÚT DANH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINHDO VIỆN BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH, NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÀ NỘI, 2003. NGƯỜI VIẾT GHI LẠI TRUNG THỰC TINH THẦN VÀ NỘI DUNG CỦA QUYỂN SÁCH. Continue reading

Hồ Chí Minh Có Chống Pháp Không?

Ngoài ngày 2/9 mỗi năm Đảng Cộng Sản Việt Nam làm lễ đánh bóng, ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh, mỗi ngày tuổi trẻ tại Việt Nam hiện nay phải học “đạo đức” của ông Hồ, học  công “đánh Pháp giành độc lập” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” v.v…Về nhân vật Hồ Chí Minh, nói chung, ít ai có thể trình bày hoàn toàn một cách sâu rộng để nói lên hết bản chất thực về con người này. Hồ được ví như một đại kịch sĩ. Ông ta có hơn 170 tên họ, bút danh, bí danh dùng để hoạt động, viết bài, qua mặt người khác, cộng thêm một hệ thống tuyên truyền tinh vi của Đảng, tạo dựng ra một hình ảnh vượt xa hẳn sự sống và cuộc đời của một con người bằng xương bằng thịt.

Tôi được biết không ít người ở Việt Nam vẫn còn tin ông Hồ có công đánh Pháp giành độc lập. Đó được coi như lý do nổi cộm nhất để đưa nhân vật họ Hồ thành một “anh hùng dân tộc.” Vậy thực sự Hồ Chí Minh có phải là anh hùng chống Pháp không? Và chống như thế nào? Nếu ông là phe cánh của Pháp thì như thế nào? Bài viết xin trình bày và phân tích những diễn biến trước và sau ngày 2/9/1945, ngày Hồ Chí Minh ra mắt tại quảng trường Ba Đình đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập.”

Trên tờ “Cứu Quốc” của Việt Minh ra ngày 29/8/1945, có đăng bản tin: “Đêm 25-8-45, máy truyền thanh vang rạy khắp mọi phố, mọi ngả đường, mọi hang cùng, ngõ hẻm dục đồng bào đúng 11 giờ ngày 26 đi biểu tình nghênh tiếp một số ủy viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội. Sôi nổi và thao thức mong đợi…,Anh Võ Nguyên Giáp bằng một giọng đanh thép, vạch rõ bổn phận của quốc dân trong lúc này là phải gấp đoàn kết, gạt bỏ hẳn tư tưởng đảng phái, tôn giáo, giai cấp, mau gây một tinh thần chiến đấu hùng hậu để đối phó với mọi tình thế gay go nghiêm trọng rất có thể sẩy ra…”…Võ Nguyên Giáp:” chúng ta phải đoàn kết và thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng để thực hiện sự đoàn kết đó, trong chính phủ lâm thời sẽ có thay đổi và mở rộng phạm vi để đón tiếp các vĩ nhân…”

Tại sao có sự cần thiết phải cấp tốc thực hiện ngay một cuộc biểu tình nghênh tiếp phái bộ Mỹ OSS (Office of Strategic Services) dẫn đầu là thiếu tá Archimedes Patti?

Hồ Chí Minh và tập đoàn cướp chính quyền Trần Trọng Kim ngày 19/8/1945, sau lúc Nhật bị hai trái bom nguyên tử của Mỹ bỏ tại Hiroshima và Nagasaki. Như bản tin trên, Việt Minh đang thành lập “chính phủ lâm thời.” Trước khi tuyên bố chính phủ một cách chính thức, phái đoàn Việt Minh vận động ráo riết để tìm phe ủng hộ. Không ai hơn là Hoa Kỳ. Thế nên, ngày 25/8/1945,trên các làn sóng, báo chí Việt Minh kêu gọi thúc giục dân ra đường ngày hôm sau, 26/8/1945, để nghênh tiếp phái bộ Mỹ OSS cùng phái đoàn Việt Minh.

Chính phủ không do dân bầu ra thì ít nhất cũng phái có một quốc gia nào khác công nhận. Nếu không thì, không hơn không kém, cũng giống như một đảng cướp từ trong rừng ra thành dùng vũ lực cướp bóc rồi tự thành lập chính phủ cho mình. Do vậy mà “tình thế gay go nghiêm trọng rất có thể sẩy ra” như lời Võ Nguyên Giáp nói. Đó có phải là vấn đề đối phó với các thành phần không cộng sản, các đảng phái quốc gia. Những khối này chắc chắn không thể chấp nhận một nhà nước độc tài khi họ đã có một thời gian dài tranh đấu chống thực dân Pháp cho quyền tự do làm người. Bởi thế mà nỗi lo của Võ Nguyên Giáp rất là hợp lý. Vậy thì tương kế tựu kế để “thay đổi và mở rộng phạm vi,” phải bắt tay với kẻ thù, lèo lái công cuộc đi đến mục đích. Thế nên về sau mới biết có nhiều người bị trúng kế, ân hận đã trễ, hay lỡ leo lưng cọp thì leo luôn là vậy. “Chính Phủ Liên Hiệp” ra đời cần thiết trong giai đọan cũng với mục đích là Việt Minh nắm chính quyền, dù là liên hiệp, rồi sau đó lộ hẳn đường lối cộng sản.

Cuộc biểu tình ngày 26/8/1945 để chuẩn bị cho ngày 2/9/1945 kết quả như thế nào? Phái đoàn Mỹ đã không có mặt tại cuộc biểu tình. Chắc chắn ông Patti được lệnh từ Washington khi biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một tên quốc tế cộng sản đang hoạt động tại Đông Dương. Liền đó, Hồ lập tức cho Võ Nguyên Giáp hướng dẫn một phái đoàn đến ngay chỗ cư ngụ của Patti tại Hà Nội. Xin trích nguyên văn đoạn sau đây trong sách “Why Vietnam” của Patti, in dưới một tấm hình, sau trang 234 : “26 August 1945, Hanoi. Ho Chi Minh sends an official delegation headed by Vo Nguyen Giap to welcome the American OSS mission to Hanoi. While the band plays the American National Anthem, Giap and his delegation join the author and the OSS team in saluting the American flag.” Đoạn này được dịch: “Hồ Chí Minh gửi một phái đoàn dẫn đầu bởi Võ Nguyên Giáp để nghênh tiếp nhân viên tình báo OSS của Mỹ tại Hà Nội. Trong khi giàn nhạc đánh bài Quốc Ca Hoa Kỳ, ông Giáp và phái đoàn của ông ta đứng cùng với người viết sách này (Patti) và đoàn OSS nghiêm chào cờ Mỹ.”

Như vậy thì quá rõ là phái đoàn Võ Nguyên Giáp đích thân mang cờ Hoa Kỳ, kèn trống từ chỗ biểu tình tới ngay trước cửa nhà thiếu tá Patti để làm lễ “nghênh tiếp một số uỷ viên trong chính phủ lâm thời và phái bộ điều tra Mỹ mới về Hà Nội” ngoài dự đoán của ông Patti.

Còn một tấm hình được chụp trong nhà trước khi Patti mặc lễ phục ra ngoài sân dự lễ chào cờ. Ông Patti trong bộ đồ thường (casual) đứng chung với phái đoàn của Võ Nguyên Giáp. Hình này được chụp từ một bài viết của một tổ chức có tựa “Hồ Chí Minh Dàn Cảnh: Tiếp Đón Phái Bộ Đồng Minh!” Dưới hình ghi “Trong ảnh: Võ Nguyên Giáp (cà vạt sọc), Nguyễn Hữu Đang (nón trằng), Nguyễn Lương Bằng (phía sau) kéo tới tư thất thiếu tá Patti, yêu cầu ông và nhân viên ra đứng trước cửa để đoàn biểu tình hoan hô phái bộ Đồng minh.” Chúng ta có thể nhìn hai tấm hình để so sánh và nhận ra thủ đoạn của tập đoàn Hồ Chí Minh. Trong hai tấm hình, phe Việt Minh cũng là những gương mặt đó, cũng những bộ đồ trắng đó, nhưng ông Patti thì mặc hai bộ khác nhau, một đồ thường và một lễ phục. Bởi vì khi vừa kéo tới nhà ông Patti, phái đoàn Việt Minh đã yêu cầu Patti ra ngay trước nhà chụp hình (sau lưng Nguyễn Hữu Đang là cánh cửa gỗ trước nhà, không phải ngoài sân) nên Patti mặc quần áo như thường. Sau đó vì ban nhạc ngoài sân trổ quốc ca Hoa Kỳ buộc lòng Patti phải thay lễ phục ra nghiêm chào.

Đối với cộng sản, tuyên truyền bằng hình ảnh rất là lợi hại. Chính Hồ Chí Minh khi gặp tướng Mỹ Chennault cũng yêu cầu Chennault cho một tấm hình và ký tên trong đó. Để chi vậy?  Hồ đem khoe với mọi người là người Mỹ đã ủng hộ ông ta. Sau này khi nhắc tới tấm hình, sĩ quan tình báo Mỹ, ông Charles Fenn (trong Uncle Ho, Uncle Sam video) cười mỉa mai và nhấn mạnh rằng người Mỹ ký tên tặng hình cho một người nào là điều bình thường, nhưng đối với Hồ Chí Minh tấm hình đó lại mang tính cách rất đặc biệt. Thế thì phái đoàn Việt Minh có ít nhất hai tấm hình để làm bằng chứng Mỹ ủng hộ, mặc dù Mỹ không hề đặt chân tham dự cuộc biểu tình nghênh đón.

Để đánh động thêm lòng hâm mộ Hoa Kỳ, mong rằng phái bộ OSS sẽ hiện diện một cách trịnh trọng trong ngày 2/9/1945 cùng với Hồ Chí Minh, 4 ngày sau, 30/8/1945, Việt Minh lại tổ chức thêm một cuộc biểu tình khác ngay tại Hà Nội để chống Pháp. Biểu ngữ có họ Hồ, cờ đỏ sao vàng, hình vẽ người dân bị Pháp hành hạ…Hình sau đây trong “Why Vietnam“, sau trang 234:

Đến đây người đọc sẽ viễn tượng ra ngày 2/9/1945 thế nào rồi! Trong khí thế chống đối lên án người Pháp, người dân đang náo nức chờ xem “đồng minh Hoa Kỳ” tỏ lộ như thế nào trong ngày quan trọng này, nhưng cuối cùng thì không có sự hiện diện của người Mỹ trên  sân khấu Ba Đình! Chỉ có một nhóm nhỏ đứng trong đám đông dưới khí hậu nóng bức của mùa thu Hà Nội, trong đó có thiếu tá Patti và đại úy Grelecki. Tài liệu video ghi lại cảnh ống kính camera cứ chăm chú vào mấy người Mỹ này mà quay phim, đoàn diễn hành trong lễ phục cứ đi qua đi lại nhiều lần trước mặt những sĩ quan tình bào này. Nhân chứng Grelecki cười to và kể lại như thế trong đoạn phim tài liệu. Người ta còn thấy nhiều biểu ngữ tiếng Anh hoan hô Hoa Kỳ, ngay cả biểu ngữ thật to quanh khán đài “THE DOC LAP”, nửa Anh nửa Việt.

Đến đây trong sự suy luận tầm thường thôi cũng biết rằng người Mỹ đã không đến dự ngày 26/8/1945 thì chẳng lẽ lại đến tham dự ra mắt với ông Hồ trên khán đài ngày 2/9/1945. Hồ Chí Minh bối rối lắm, ngay lúc đứng trên sân đài đọc diễn văn, chắc chắn là vậy. Công trình cực khổ cả mấy tuần trước để chỉ mong Mỹ đứng chung với Hồ tuyên bố công nhận “chính phủ”, hoá ra chỉ có vài ba người Mỹ đứng dưới đám đông quan sát mà thôi. Võ Nguyên Giáp cũng đoán được tình hình nên lời kêu gọi được đăng trên báo “Cứu Quốc” cũng rất thiết tha. Đoàn kết để cứu vãn tình thế, phải dấu thật kín hai chữ “cộng sản” để dễ hợp tác với các thành phần quốc gia, “mở rộng phạm vi” là vậy.

Thất bại ngay ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh tính sang một thủ đoạn khác, một kế sách khác: Đi đêm với viên đại diện Pháp, Jean Sainteny, mong Pháp quay đầu trở lại Việt Nam.

Sainteny lại là đảng viên Đảng Xã Hội nên việc giúp Hồ, một thủ lãnh Đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng không có gì vô lý. Hơn nữa, và quan trọng không kém, tại Pháp hiện trong giai đoạn này Đảng Xã Hội đang nắm quyền quốc hội, đứng đầu bởi thủ tướng Felix Gouin (1/1946 – 6/1946). Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản sau sát nhập như một. ” Ngày 16/2/1946, hai bên đi đến chỗ chấp nhận nguyên tắc sơ lược: Việt Nam độc lập trong liên hiệp Pháp” (Sử Địa 12ab, nhà xuất bản Trường Thi, Saigon,1974.) Cũng theo sử liệu này, Hồ Chí Minh bị nhiều phản đối trong nội bộ Việt Minh và các khối chính đảng. Hồ phải thành lập và điều chỉnh “Chính Phủ Liên Hiệp” để câu thời gian vận chuyển tình hình.

Ngay lúc đang thảo luận thì tàu Pháp ra Bắc. Ngày 6/3/1946, tàu Pháp theo sông cửa Cấm vào Hải Phòng, nhưng bị quân Trung Hoa chận lại và đánh vào tàu Pháp. Cuộc chạm súng ngắn ngủi. Pháp thoát lui chờ đợi. Được tin này, Sainteny và Hồ Chí Minh ký ngay Hiệp Ước Sơ Bộ.

Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 nhấn mạnh sự công nhận của chính phủ Pháp đối với nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” do Hồ Chí Minh lãnh đaọ, và gồm một số điều khoản chia chát quyền lợi hai bên, cho phép Pháp được ở lại Việt Nam 5 năm, rồi sau đó điều đình tiếp.Việc Pháp về thay thế quân Tưởng để thu dẹp tàn quân Nhật chỉ được ghi ra trong hiệp ước mà thôi, hay nói đúng hơn, đó chỉ là cái cớ để tuyên truyền lý do tại sao Hồ mang Pháp trở lại lần hai để cai trị.

Ngay ngày hôm sau, taị Hà Nội, Việt Minh tổ chức lễ Pháp tuyên bố công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh. “An Encyclopedia of World History, List of Events, 1945-1946,” có ghi:”Mar. 7, France recognized the Vietnam Republic as a free state but retained the right to defend it. French troops moved into this area of Indo-China March 8 without meeting resistance from the Annamese.” Nếu đã có hiện tượng Pháp trở lại Việt Nam để thay thế quân Tưởng (có sách cộng sản ghi Việt Minh đẩy lùi 20 ngàn quân Tưởng ra khỏi Việt Nam) thì quyển tự điển thế giới này đã ghi ra rồi.

Hiệp Ước Sơ Bộ có những điều khoản mà thống đốc D’argenlieu chống đối. D’argenlieu, không muốn thống nhất ba kỳ mà đòi Nam Kỳ tự trị. Việc bàn luận nội dung hiêp ước chưa đi đến kết quả gì chắc chắn. Vả lại, vì  hiệp ước là sơ bộ nên không có gì ràng buộc nên phải gặp quốc hội để có tính pháp lý. Được biết khi D’argenlieu tới Hà Nội để gặp Hồ Chí Minh về vụ Hiệp Ước Sơ  Bộ thì để đánh phủ đầu ông thống đốc, Hồ ra lệnh treo cờ, hoa giăng, biểu ngữ đầy đường coi như mừng ngày sinh nhật của ông ta. Có phải ông Hồ làm ra hiện tượng này để cho D’argenlieu thấy rằng dân chúng đang ủng hộ ông ta thì D’argenlieu nên chấp nhận cái hiệp định ấy đi. Đó là ngày 19 tháng 5, 1946, mà sau này Đảng dùng làm ngày sinh của ông Hồ một cách chính thức.

Ngày 28/5/1946 phái đoàn Việt Minh do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Pháp dự hội nghị tại Fontainebleau. Hồ Chí Minh cũng sang Pháp, nhưng đi riêng. Như vậy là thế nào? Hồ đã đoán được Phạm Văn Đồng thất bại nên phải làm một kế sách khác để cứu vãn tình hình.

Thật vậy, Hồ Chí Minh đã đoán đúng. Phái đòan Phạm Văn Đồng lủi thủi ra về trước sự hờ hững của quốc hội Pháp. Tại sao? Xin trích lại nguyên văn một đoạn sau đây trong “Đồng chí Hồ Chí Minh“, tác giả cộng sản E-Cô-bê-lép, trang 323:

“Những người cộng sản Pháp đã làm hết sức mình để buộc hội đồng chính phủ phải chú ý đến ý kiến của đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Tiếc rằng, Đảng cộng sản Pháp không chiếm được ưu thế trong nội các. Mùa thu 1946, những kẻ tán thành đường lối cứng rắn đối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà chiếm ưu thế trong các giới chính phủ Pháp. Chính vào lúc này vũ đài chính trị Pháp ngả về phe hữu. Trong cuộc bầu cử ngày 2 tháng 6, Đảng cộng sản và Đảng xã hội Pháp mất đa số trong quốc hội lập hiến và ủy ban hiến pháp, còn người đứng đầu chính phủ không phải là đảng viên xã hội như trước đây nữa mà là Bi-đôn, thủ lãnh Đảng phong trào cộng hoà bình dân thuộc phái tăng lữ.”

 

Giáo sư William Duiker trong sách “Ho Chi Minh A Life” cũng đã đưa ra hình ảnh và những chứng minh khoa học về hiện tượng Fontainebleau này (Ho Chi Minh, William Duiker, trang 426).

Dich: Vào đầu tháng 6, 1946, đại diện nước Pháp, ông Jean Sainteny đưa Hồ Chí Minh đi từ thành phố Biarritz đến Paris để dự hội nghị hoà bình tại Fontainebleau. Tại đây, ông Hồ và Sainteny chờ đợi máy bay đến khi đang ngồi trong phi trường tại Paris. Sainteny, trong hồi ký của ông, đã ghi lại là Hồ Chí Minh tỏ ra lo sợ một cách lạ lùng trên vấn đề hội họp tại Fontainebleau.

Thật vậy, chẳng những ông Duiker diễn tả ông Hồ tỏ ra lo sợ một cách lạ lùng còn cho người đọc thấy hình ảnh Hồ chụp với Sainteny tại phi trường Paris với gương mặt vô cùng bất bình thường.

 

Thêm một chứng minh hùng hồn khác trong sách “Hỏi và Đáp về Cuộc Đời và Sự Nghiệp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Viện Bảo Tàng HCM, nxb Trẻ, 1999.” ” Hỏi: Tạm ước 14-9-1946 do ai ký? Nhằm mục đích gì? Đáp: Tạm ước 14-9-1946 do Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp. Đây là một sách lược ngọai giao tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm làm cho nhân dân ta có thêm thời gian để chuẩn bị tòan quốc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.”

Rõ ràng, quốc hội Pháp nay không còn lãnh đạo bởi phe Đảng Xã Hội và Cộng Sản nữa nên việc “liên hiệp Pháp” của Hồ Chí Minh coi như không thể thực hiện một cách lâu dài như dự tính trong Hiệp Ước Sơ Bộ. Con đường cùng, Hồ tìm đến gặp Bộ Trưởng Thuộc Địa, ông Marius Moutet, cũng là đảng viên Xã Hội. Hồ Chí Minh gõ cửa nhà Moutet lúc 2 giờ sáng, 14/9/1946, để hai bên ký một “tạm ước”, có tên “Modus Vivendi”, trong đó gồm 11 điều khoản có lợi hai bên. Tuy nhiên, tạm ước này không có giá trị gì cả, bởi Moutet không phải là đại diện của quốc hội Pháp, ông chỉ là một viên chức của bộ thuộc địa mà thôi, cũng là phe cánh của Hồ Chí Minh thời gian Hồ còn bên Pháp hoạt động trong Đảng Cộng Sản.

Đảng giải thích trong sách giáo khoa cho rằng Hồ Chí Minh có “sách lược ngọai giao tài tình” để “có thêm thời gian” chuẩn bị thật quả đúng không sai chút nào. Đi nài nỉ không thành công, biết mình đã bị bỏ rơi, bị “phe hữu” lên nắm quyền chống lại “phe tả” (tức cộng sản) nên Hồ đăm ra bối rối, và trong cơn túng quẩn phải làm một cách vá víu là tìm gặp Moutet ký tạm ước vô giá trị này để “câu giờ.” Nhiều sách báo của cộng sản cũng hay đề cập tới 4 tháng ông Hồ ở bên Pháp để vận động. Sách ghi khá chi tiết về những nhân vật Hồ Chí Minh gặp. Họ không ai khác hơn là các thành phần của Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản Pháp. Ngay cả lúc trở  về Việt Nam, ngày 22 tháng 9, 1946, ông Hồ còn nương níu một lần chót bằng cách viết thư cho một “đồng chí” người Pháp là bà Sô-Dít (không biết tên thật đánh vần thế nào, đây là cách viết tên người Pháp của ông Hồ) để mong bà ta giúp đỡ làm cách nào để Pháp hợp tác với “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.”

Tiếp theo là cuộc xung đột xảy ra giữa hai phe: Pháp và Việt Cộng. Ngày tuyên chiến đầu tiên 19/12/1946.

Hồ Chí Minh bấy giờ bắt đầu đổi chiến thuật tuyên truyền: hô hào toàn dân chống Pháp với chiêu bài Pháp trở lại xâm lược. Nhưng người ta tự hỏi: tại sao mới ngày nào đây từ 6/3/1946, tức trong vòng 8 tháng nay phe Việt Minh và Pháp là một, thậm chí Việt Minh còn mượn tay Pháp sát hại các đảng phái quốc gia, tiêu diệt đến tận cội rễ, nay sao lại tuyên chiến là thù địch? Trong dân gian thành Hà Nội thời đó có truyền nhau câu ca dao:” Mộ Quỳnh cỏ mọc còn xanh. Hỏi ai bán nước: ấy anh già Hồ.” Phạm Quỳnh bị lên án thân Pháp và bị sát hại ngày 6/9/1945, nhưng rồi mộ chôn ông còn mới, cỏ mọc còn xanh tươi, thì chính người lên án và ra lệnh giết Phạm Quỳnh với tội thân Pháp lại mang Pháp về. Hồ cùng phe với Pháp một thời gian, sau đó lại quay sang chống Pháp. Lý do của sự thay đổi như trở bàn tay của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này đã được trình bày trên.

Chiêu bài “chống Pháp xâm lược” của Hồ Chí Minh mà cũng có hàng triệu triệu người tin và nghe theo. Nếu chịu suy  nghĩ một chút thì thấy ngay sự lường gạt của ông Hồ, nhưng thời đó đại đa số chống Pháp như truyền thống, không biết rằng Pháp của thời thực dân trước 1945 và Pháp sau thế chiến thứ 2 hoàn toàn khác nhau. Bắt đầu năm 1946, Pháp cũng như tất cả các nước có thuộc địa như Pháp, Tây Ban Nha, Anh…đều bị ràng buộc bởi quốc tế và ký trả lại độc lập cho những nước thuộc địa, trong đó có Philippines, Ấn Độ, Lebanon, Syria, v.v…Còn Việt Nam thì Pháp đã ra sau khi Nhật đảo chánh Pháp và chính vua Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 11/3/1945. Vua Bảo Đại đã xé hòa ước 1884 giữa Pháp và Việt Nam. Thế giới tự do sau thế chiến thứ 2 phải đương đầu với sự bành trướng của làn sóng cộng sản, nhất là ở Âu Châu, và sau đó là Á Châu mà Hồ Chí Minh là một lãnh đạo sừng sỏ có thành tích hoạt động cho quốc tế cộng sản hơn 30 năm.

Hồ hô hào Pháp trở lại “thực dân” và “xâm lược” khi không trả lời được sự mâu thuẫn. Chính Hồ Chí Minh đã ở Pháp 4 tháng (từ 6/1946 – 9/1946) để vận động kêu gọi các đồng chí của ông ta giúp làm mọi cách để Pháp chấp  nhận “chính phủ” của Hồ, làm mọi cách để thực hiện Hiệp Uớc Sơ Bộ 6/3/1946, để hai bên Pháp và Việt Minh cùng hưởng lợi. Nếu Pháp có ý đồ thực dân hay xâm lược thì dĩ nhiên nên chấp nhận cái Hịêp Uớc Sơ Bộ đó ngay, không phải bị mang tiếng như trước đây, vì Pháp được “mời” về cai trị tiếp. Nhưng không, vào tháng 6/1946, khi chính phủ mới của Pháp, dẫn đầu là thủ tướng Georges Bidault (6/1946 – 11/1946), đã công khai chống Hồ Chi Minh với lý do Hồ là cộng sản. Dẫn chứng được trình bày rõ mà E-Cô-bê-lép đã ghi trong sách được trích ở trên.

Việt Minh không hẳn tất cả là những người cộng sản. Một số đông là những thành phần yêu nước thật sự. Họ tham gia chống Pháp coi như là bổn phận, nhưng rồi sau đó có thể lầm lẫn nghe theo cộng sản, hoặc bị lôi cuốn vào quỹ đạo với thời gian và hoàn cảnh. Đáng ghi nhận hơn hết trận chiến đầu tiên phân ranh quốc cộng phải là trận chiến này. Chiến tranh kéo dài từ 12/1946 đến 5/1954, kết thúc tại Điện Biên Phủ.

Cộng sản thường huyênh hoang chiến tranh 1946-1954 có mục đích giành độc lập, giành lại chủ quyền từ tay người Pháp. Phần trình bày trên đã chứng minh Hồ Chí Minh bắt buộc phải đương đầu với Pháp vì Pháp đã tuyên chiến trước. Pháp đánh Hồ Chí Minh vì Hồ là cộng sản, là đe dọa cho hoà bình thế giới. Đó không phải là cuộc chiến tranh giành độc lập, một cách hiển nhiên là như thế.

Thật ra, trận Điện Biên Phủ không phải là sự thành công hoàn toàn của phe cộng sản Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã nhận chỉ thị từ Trung Cộng; thêm vào, Trung Cộng tiếp tế súng đạn và nhân sự cho trận chiến. Sự chiến thắng đó xem ra cũng chưa hẳn vẻ vang khi đã thiêu đốt hằng ngàn thân xác một cách vô thương tiếc với chủ trương “biển người” (human wave) của cộng sản. ” Thề quyết hy sinh đến giọt máu cuối cùng” mà Võ Nguyên Giáp đã nêu lên trong lời kêu gọi là vậy.

Trở lại lúc Hồ Chí Minh tại Pháp năm 1946, khi vận động tìm phe ủng hộ. Hồ đã gặp ông tướng Salan. Ông Salan đã nói:” We are going to fight each other, and it will be very difficult – Chúng ta sắp đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn.” “Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight…You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired. – Hơn nữa, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet là “Nếu chúng tôi đánh, chúng tôi sẽ đánh…Các ông giết chúng tôi 10 người và chúng tôi chỉ giết 1 người của phe ông, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi…”” (trang 120, Ho Chi Minh, Pierre Brocheux). Điều này chứng tỏ ông Hồ đã có trong đầu chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” và “biển người” từ lâu. Thân phận người Việt Nam trong cuộc chiến chỉ là con vật hy sinh để Hồ bước lên địa vị lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và làm theo lệnh quốc tế cộng sản.

Có người đặt câu hỏi: khi nói Hồ Chí Minh chống Pháp thì phải hỏi là Pháp nào? Pháp cộng sản hay Pháp quốc gia? Thật vậy, những gì người viết trình bày trên đã cho thấy gian hùng Hồ Chí Minh và tập đoàn đã lộ hẳn bộ mặt vong bản, sẵn sàng làm nô lệ cho bất cứ ai miễn sao bảo đảm được quyền lợi thống trị của Đảng. Chủ trương của cộng sản biến thái từng giai đoạn, đu giây để được tồn tại. Một mặt thì hô hào tiêu diệt kẻ thù, mặt khác thì xin xỏ được làm bạn với chính kẻ thù đó, như trường hợp Hồ Chí Minh đối với Hoa Kỳ và Pháp. Hồ theo Pháp mang Pháp về cai trị vì Pháp đó là Pháp cộng sản, Pháp của Đảng Xã Hội. Hồ chống Pháp vì quốc hội Pháp chuyển sang thành phần “phe hữu” chống cộng sản.

Tóm lại, trận chiến 1946-1954 là trận chiến đầu tiên phân ranh quốc cộng; và cho đến hôm nay cuộc chiến quốc cộng vẫn còn đang tiếp diễn. Bổn phận người dân có trách nhiệm với quốc gia dân tộc, nhất là những ai còn mù mờ tin theo cộng sản, xin hãy tìm hiểu sự thật để có hành động thích đáng trước tình cảnh đất nước hiện tại. Không thể tôn vinh những điều sai trái, ngụy biện. Hành động bán nước hại dân lại được đặt tôn là vì đất nước dân tộc. Hơn trên tất cả, chủ nghĩa cộng sản lỗi thời, cộng thêm tính vô nhân bản, mà Hồ Chí Minh mang vào áp đặt bằng bạo lực lên dân tộc Việt Nam, không một kẻ có lương tâm lương tri nào chấp nhận được. Chiêu bài Hồ Chí Minh có công đánh đuổi Pháp để giành lại quyền độc lập có đủ để tha thứ cho những cái tội quá lớn không?

Bút Sử

8/2007

Ngục Trung Nhật Ký không phải của HCM

Theo học giả Lê Hữu Mục, trong quyển sách “Hồ Chí Minh Không Phải Là Tác Giả Ngục Trung Nhật Ký“, 1990, ông đã đưa ra đầy đủ bằng chứng để kết luận tập thơ này ra đời dưới sự dàn dựng công phu của ban biên soạn thuộc hệ thống Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Một bằng chứng hùng hồn nhất là hình bìa nguyên thủy của tập thơ chữ Hán in hình hai bàn tay bị xiềng nắm chặt lại đưa lên, phía trên đề ngày 29-8-1932 đến 10-9-1933, nghĩa là tập thơ được sáng tác trong giai đoạn trên. Nhưng theo cộng sản Việt Nam thì tập thơ được “Bác” sáng tác từ 29-8-1942 đến 10-9-1943,  trong giai đoạn “Bác” bị bắt tại biên giới Trung Việt, bị giam nhà tù của Tưởng Giới Thạch qua nhiều trại từ Tĩnh Tây, Thiên Bảo, Long Tuyền, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Nam Ninh, Bào Hương, Lai Tân, Liễu Châu. Cứ như thế Hồ Chí Minh bị chuyển đi chuyển lại 30 nhà tù của 13 huyện tỉnh Quảng Tây.

Ông Đặng Thai Mai với chức vụ Chủ Tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật được giao nhiệm vụ hiệu đính cuốn thơ trong thời gian 1959-1960 đã bị Đảng cho là có những câu hỏi “lẩm cẩm.”  Ông đã đặt thắc mắc lên Ban Tuyên Giáo để ban này đưa lên Hồ Chí Minh. Câu hỏi : Tại sao hình bìa cuốn thơ có ghi 29-8-1932 đến 10-9-1933 mà khi dịch ra thì phải sửa thành 29-8-1942 đến 10-9-1943? Hồ Chí Minh không trả lời gì cả, giữ mãi thái độ lặng im, lại ve vuốt ông Mai và vội vàng thăng chức cho Đặng Thai Mai làm Viện Trưởng Viện Văn Học, một chức vụ bao trùm mọi sinh hoạt văn học.

hinh bia nhat ky  trong tu gia va thietBìa sách được sửa 29-8-1932 tới 10-9-1933 thành 29-8- 1942 tới 10-9-1943

Nếu Hồ Chí Minh làm ra những bài thơ này vào giai đoạn 1942-1943, tại sao Trần Dân Tiên (bút danh của Hồ Chí Minh) không đề cập tới những sáng tác của ông khi cho ra cuốn “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh” vào 1948? Đây là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó ông Hồ tự viết về mình, tự ca ngợi đánh bóng cá nhân ông ta. Những bài thơ hay như vậy mà ông không nhớ ra để ghi vào sách hay sao?

Theo giáo sư Lê Hữu Mục, 1958 sau khi dẹp xong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Đảng thấy cần “sáng tạo” ông Hồ thành một lãnh đạo văn nghệ để ngăn ngừa những vụ nổi dậy sau này.

Tập thơ gốc và tập thơ do Đảng tạo ra lại cách nhau khỏang 10 năm. Ban dịch thuật ngụy ra những ngày tháng trong đó cho tương xứng với những ngày Hồ Chí Minh bị giải đi các nhà giam bên Trung Quốc. Hầu hết là thơ chính gốc và một số ít thơ thật của Hồ Chí Minh. Người ta thấy ngay hai cách hành văn, hai tư tưởng, hai hoàn cảnh khác nhau…

Nhân vật Già Lý là ai trong “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch” của Trần Dân Tiên?

Trần Dân Tiên viết (trang 87): “Hai người bị bắt làm ông chú ý hơn cả: một em bé học nghề mười ba tuổi….; và một tướng cướp già bị bắt vì bị bạn tố giác. Người này độ sáu mươi tuổi, hoà nhã, mưu trí và gan góc, giỏi chữ Trung-quốc, làm được thơ. Y tự cho mình là một anh hùng và cho ông Nguyễn cũng là một anh hùng. “Tôi là một con sư tử rơi xuống hố. Anh cũng là một con rồng mắc cạn,” y vừa nói vừa thở dài. Nhưng y rất lạc quan, nói tiếp thêm: “Sư tử một ngày kia sẽ trở về làm chúa sơn lâm, còn rồng một ngày kia sẽ bay lên trời và làm chúa tể gió mây.” Già Lý làm chúa một dãy núi…Lý khá ác với người giàu, nhưng rất tử tế với người nghèo. Vì vậy Lý đưọc nhân dân trong vùng vừa yêu vừa sợ.”

Trên là một số nét chánh về Già Lý mà Hồ Chí Minh đã tả trong sách khi ở tù chung với Lý tại nhà khám lớn ở Hong Kong từ 1932-1933. Lúc này Già Lý đã 60 tuổi , Hồ Chí Minh chỉ khoảng 42.

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi (bài 2, Khai quyển)

Lão phu hoà lệ tả tù thi (bài 110, Thu dạ).

Theo giáo sư Lê Hữu Mục, 60 tuổi thì gọi là kì, 70-80 là điệt, 80-90 là mạo. Như vậy, những bài thơ trong đó tự xưng “lão” chắc chắn là của một người già, không phải ở tuổi 52 của Hồ Chí Minh, nếu cho rằng ông ta làm lúc ở tù tại Trung Quốc 1942.

Bài sau đây chứng tỏ tác giả là một người Trung Hoa (Hán):

Anh nói (bài số 7)

Trung thành, ta vốn không thẹn
Lại bị hiềm nghi là Hán gian!
Vốn biết là đời không dễ xử
Đến nay càng khó xử muôn vàn!

Hán gian nghĩa là người Trung Hoa mà đi làm tay sai cho giặc. Nếu Hồ Chí Minh bị nghi làm tay sai cho người Trung Hoa thì gọi là Việt gian.

Nhà ai hoa kết với đèn chưng
Quốc khánh vui reo cả nước mừng
(bài 26)

Song Thập là ngày 10 tháng 10,  tức ngày lễ lớn của Trung Hoa. Hồ Chí Minh là người Việt Nam thì hà cứ gì phải vui mừng trong  ngày lễ của nước khác. Hơn nữa, năm 1942, nếu coi như thơ của Hồ thì lúc này bị ở nhà tù Tưởng Giới Thạch thì tại sao lại reo vui với kẻ thù?

Một bài thơ nói lên cảnh tù văn minh, không thể là cảnh nhà giam ở Trung Quốc:

Nhà Ngục (Nam Ninh)

Phòng giam kiến trúc rất ma-đăng
Đèn điện thâu đêm chiếu sáng trưng
Mỗi bữa chỉ vì duy có cháo
Cho nên cái bụng sợ chằng chằng!

Ma-đăng là phiên âm chữ modern của tiếng Anh, nghĩa là hiện đại, văn minh. Chỉ có nhà tù ở Hong Kong mới xây bằng xi măng cốt sắt với kiến trúc tân thời, có đèn điện thâu đêm. Nhà giam ở Quế Lâm, Liễu Châu v.v.., lúc Hồ Chí Minh ở tù 1942 thì làm gì có những tiện nghi như ở Hong Kong. Như vậy thì chắc chắn bài thơ này của Già Lý ở tù 1932. Hơn nữa, trong “Những Mẩu Chuyện…” còn kể về 1942, Hồ Chí Minh đa phần bị xích xiềng, bị dẫn dắt đi từ nhà tù này tới nhà tù nọ trong nhiều tháng. Khi được nghỉ ngơi thì Hồ lại chán, không biết phải làm gì. “Nhưng cụ khổ nhất là mất thì giờ ngồi không. Trong khi Cụ Hồ la lết tấm thân mệt lử từ nhà giam này đến nhà giam khác, có lẽ những việc lớn đang dồn dập trong nước và trên thế giới.” (trang 97).

Nhiều bài thơ trong Ngục Trung Nhật Ký thể hiện nhân cách một con người thoát tục, có tính siêu nhiên, tuy là một kẻ giang hồ. Một cái nhìn duy tâm của Già Lý trong:

Cảnh Chiều

Hồng nở rồi mai hồng lại rụng
Hoa tàn hoa nở những vô tình
Hương hoa bay thấy vào song ngục
Hương đến người tù tố bất bình!

Tư tưởng trên không thể là “tư duy” của những người cộng sản theo chủ thuyết duy vật. Khi ta đọc về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên ta thây thể hiện một con người hoạt động đấu tranh, có tính mưu cầu. Hai nhân vật hoàn toàn khác nhau.

Phong cách thật của Hồ Chí Minh trong Ngục Trung Nhật Ký qua một ít bài thơ như:

Hạn chế (103)

Đau khổ chi bằng mất tự do
Đến buồn đi ỉa cũng không cho
Cửa tù khi mở, không đau bụng
Đau bụng thì không mở cửa tù!

Thiên bảo ngục (31)

Năm mươi ba dặm, một ngày dài
Aó mũ dầm mưa, giày rạc rài
Chỗ ngủ yên thâu đêm chẳng có
Ngồi trên hố xí đợi ngày mai

Cảnh tình này rất đúng trong trường hợp Hồ Chí Minh làm bài thơ trên khi bị tù tại Trung Quốc 1942. Trong “Những Mẩu Chuyện…” (trang 96): “Ăn uống thiếu, không khí thiếu, bẩn thỉu, ở lẫn với những người mắc bệnh giang mai, nghiện thuốc phiện. Nhà tù thường chật ních, người đến sau không có chỗ nằm. Ban đêm Cụ Hồ thường ngồi trên cầu xí ở ngay trong phòng giam. Nhưng cụ vẫn không được yên ổn. Lâu lâu cụ lại phải đứng dậy nhường chỗ cho một người đi ỉa đêm.”

Ngôn ngữ và phong cách của hai bài thơ trên và trong sách Trần Dân Tiên hầu như giống nhau hoàn toàn. Cách dùng chữ rất trần trụi (ỉa) mà trong thơ Già Lý thì nhã và kín đáo hơn.

Trần Dân Tiên cho đó là phòng giam. Điều này chứng tỏ rằng những “nhà tù” mà Hồ Chí Minh trải qua trong giai đoạn 1942-1943 tại Trung Quốc chỉ là những trại giam với phòng giam chật hẹp, khác hẳn nhà tù lớn ở Victoria Hong Kong. Đa phần những bài thơ của Già Lý nói về nhà tù, nhà lao, không phải phòng giam.

Bài viết này chỉ đưa ra một vài điều chứng minh trong rất nhiều chi tiết mà học giả Lê Hữu Mục đã trình bày. Tuổi trẻ tại Việt Nam đến ngày nay vẫn còn phải học cái gọi là “tác phẩm” văn học của Hồ Chí Minh. Một vài sách báo của Mỹ khi viết về ông Hồ trong giai đoạn bị tù 1942 lại dẫn chứng bằng những bài thơ tù trên. Đó là điều đáng tiếc!

Bút Sử

Tư Tưởng Cắc Kè

Trong tháng 7, 2009 này, một phim tài liệu với tựa “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã được tung ra do nhóm linh mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện. Được biết trong nước một số người đã vào các link và http://www.youtube.com để xem. Người ta còn download vào máy để làm ra những copy tìm cách phổ biến. Ngoài tài liệu hình ảnh sưu tầm từ mọi nơi, ban thực hiện còn có những phỏng vấn nhiều sử gia, nhà báo, nhà nghiên cứu, lãnh đạo tinh thần, đảng viên ly khai từ các nơi trên thế giới…Đây là một việc làm xứng đáng được hoan nghênh, và đúng ra cộng động tỵ nạn đã nên thực hiện phim như thế từ lâu.

Nhà báo Pháp Oliver Todd, tác giả cuốn “Cruel April,” trong phim khi phỏng vấn đã nói đại ý rằng người Việt Nam nói chung hiểu vấn đề qua hình ảnh hơn là các phương tiện khác như sách báo, thế nên việc tuyên truyền bằng hình ảnh rất quan trọng đối với cộng sản. Một Hồ Chí Minh với gương mặt phúc hậu (mặt thật thì nhọn và xương), với râu trắng dài như ông tiên, tai đầy tròn như Phật; sau ngày ông qua đời hình ảnh này được phổ biến mọi nơi, trên những giấy tiền, cộng thêm một hệ thống tuyên truyền ngày ngày rỉ rả thêu dệt huyền thoại để người nghe bị in vào đầu một bóng dáng như toàn thiện.

Phim tài liệu với nhiều chứng minh sự thật về con người lịch sử Hồ Chí Minh này là một đối chọi đáng kể đối với Đảng Cộng Sản trong nước ngày nay. Thật vậy, nhũng gì mà Đảng đang ra công nhồi nhét vào đầu óc mọi người về Hồ Chí Minh đều đi ngược lại những gì trong phim. Không đưa ra hết mọi mặt, nhưng phim đã trình bày đa phần quan trọng về nhân vật họ Hồ.

Những người đàn bà trong đời Hồ Chí Minh, đặt biệt nhất là Nông Thị Xuân. Hình cô Xuân, một phụ nữ rất xinh đẹp vào khoảng tuổi dưới 30 khi ông Hồ lúc 1956 đã trên 66. Vũ Thư Hiên nói rằng chính vì cô Xuân muốn làm vợ “bác Hồ” mà đã bị thủ tiêu, chết vì bị đập đầu nhưng Đảng tạo ra một tai nạn lưu thông để che mắt. Bùi Tín khẳng định Nguyễn Tất Trung chính là con của ông Hồ và cô Xuân hiện đang sống tại Hà Nội mà chính Trung cũng dần dà biết ra mình là con của của người lãnh tụ cộng sản. Trước cô Xuân ông Hồ còn nhiều mối tình khác nữa như Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh khai…

Phim còn đề cập ông Hồ có rất nhiều bút danh và bí danh, có thể nói trên 50 (có thể chỉ là bút danh) , nhưng người viết đã từng phổ biến là Hồ Chí Minh có gần 200 tên. Đây là tài liệu chính thức của Viện Bảo Tàng Hà Nội khi cho ra đời, 2003, cuốn “Những Tên Gọi, Bí Danh, và Bút Danh của Hồ Chủ Tịch,” trong đó họ đã ghi ra một cách rất chi tiết 174 tên, cộng thêm hơn 30 tên đang nghiên cứu. Tuy nhiên, bút danh Trần Dân Tiên thì không được tiết lộ, mặc dù văn công Hà Minh Đức đã công bố Trần Dân Tiên chính là Hồ Chí Minh trong cuốn “Tác Phẩm Văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh,” xuất bản 1985.

Phim còn nhấn mạnh hiện tượng UNESCO mà Đảng đã cố tình tạo dựng ra một “Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá thế giới” khi chưa hề có chuyện UNESCO tuyên dương như vậy. Còn nhiều chi tiết khác phim đã trình bày, nhưng ở đây người viết muốn khai thác cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh.”

Nếu Ngục Trung Nhật Ký là của Hồ Chí Minh thì dĩ nhiên tư tưởng của ông phải ẩn hiện trong đó. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đưa ra dẫn chứng: Ông Đặng Thai Mai khi nhận công tác dịch thuật cuốn thơ từ chữ Hán ra Việt đã thấy hình bìa in 1932-1933. Khi Đặng Thai Mai hỏi ông Hồ tại sao ông cho rằng Hồ Chí Minh làm những bài thơ này khi bị tù tại Trung Quốc từ 1942-1943? Hồ Chí Minh lặng thinh không trả lời. Những bài thơ nói rất nhiều về chuyện Trung Hoa, chiến tranh chống Nhật, ca tụng Tưởng Giới Thạch v.v..

Thật ra tư tưởng Hồ Chí Minh, như nhà nghiên cứu lịch sử Trần Gia Phụng nói trong phim, là một chế biến để cứu nguy chế độ. Sau ngày cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ thì khẩu hiệu “chủ nghĩa Marx Lenin bách chiến bách thắng” đã không còn hợp thời, nên 1992 Hiến Pháp của Đảng được sửa đổi và trong đó có thêm phần “tư tưởng Hồ Chí Minh.” Nhưng rồi Đảng lại không biết trình bày cái tư tưởng đó như thế nào, ngoài những khẩu hiệu kêu gọi toàn dân nên như thế này, thế kia… Ông Trần Ngọc Thành, quê Nghệ An, một cựu đảng viên, hiện sống tại Ba Lan, cho rằng ông chỉ thấy “tư tưởng Hồ Chí Minh” chỉ là những câu như: cần kiệm, chí công vô tư, chủ nghĩa yêu nước… Ông nói đó là những thứ sáo rỗng.

Jean Lacouture, một nhà giáo người Pháp thân cộng, cũng cho rằng Hồ Chí Minh là một người hành động. Ngay chính ông William Duiker, tác giả cuốn “Ho Chi Minh A Life,” cuốn sách mà Đảng muốn dịch thành tiếng Việt với điều kiện không dịch phần vợ con của ông Hồ, nhận xét rằng ông Hồ không có tư tưởng gì cả so với những lãnh tụ làm chính trị khác trên thế giới. Giáo sư Douglas Pike (không có trong phim) xác định Hồ chỉ là một người giỏi tổ chức, không phải nhà cách mạng (organization man, not revolutionary man,) ông có tài gây ra phong trào (to organize the movement).

Ai cũng nhận thấy rằng không gì hơn là lấy chính lời của ông Hồ để chứng minh ông có tư tưởng hay không. Chính Hồ Chí Minh khi hỏi vê “tư tưởng” ông đã trả lời với nhà báo rằng ông không có tư tưởng gì cả, cái đó đã có ông Mao, ông Marx lo rồi. Đảng trả lời sao đây khi mà hiện nay trong nước càng đẩy mạnh cái gọi là “GiáoTrình Tư Tưởng Hồ Chí Minh” cho thành phần sinh viển đại học và cao đẳng?

Nếu lấy câu “gậy ông đập lưng ông” áp dụng cho chính sách giáo dục trong nước ngày nay thì cũng rất hợp thời. Bởi vì sau khi học và nghiên cứu kỹ lưỡng về những thành tích và hoạt động của ông Hồ trong suốt chiều dài cuộc đời làm chính trị của ông thì có thể sinh viên sẽ đi đến một kết luận về tư tưởng của ông Hồ. Đó không gì hơn là “Tư Tưởng Nhiều Màu.”

Ông Vũ Ngự Chiêu trong phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã đưa ra nhận định rất đáng ghi nhận. Ông cho rằng Hồ Chí Minh hành động với chủ ý của mình theo từng giai đoạn, từng hoàn cảnh và nhu cầu. Hồ dựa vào các thế lực ngay vào thời điểm mà ông ta cần và lúc đó tư tưởng của Hồ là tư tưởng của các thế lực đó.

Giai đoạn 1919, Hồ ca ngợi chủ trương của Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson về chính sách thuộc đia, khi ông mới nhuốm nhém là thành viên của Đảng Xã Hội bên Pháp. Ông gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp 1920 nên cái gì của Pháp cũng đẹp. Ông qua Nga 1923 thì tìm thấy thần tượng là chủ nghĩa Marx Lenin, một thứ ánh sáng soi đường, là thứ cẩm nang thần kỳ. Trong giai đoạn phải hợp tác với Tưởng Giới Thạch bên Tàu thì lại tôn vinh Tôn Dật Tiên với thuyết Tam Dân. Khi được OSS (cơ quan tình báo của Hoa Kỳ) mướn làm liên lạc viên đem thông tin qua lại giữa ranh giới Tàu và Việt khi đối đầu với Nhật thì Hồ Chí Minh đề cao những người Mỹ là “vĩ nhân.” Trơ trẽn hơn hết là sau khi cướp được chính quyền Trần Trọng Kim, ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn” lại dùng nguyên văn những câu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

Đó là đại loại tư tưởng của ông Hồ mà ông Vũ Ngự Chiêu gọi là “Tư Tưởng Cắc Kè.”

Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh, sau ngày ông chết đã nhuộm đỏ luôn miền Nam. Di sản của Hồ để lại vẫn là Đảng Cộng Sản Việt Nam, một bộ phận rất gương mẫu của quốc tế cộng sản, mà trước đó Hồ Chí Minh được thế giới cộng sản xem là dễ sai dễ bảo nhất. Những hành động và tư cách thể hiện cái “không tư tưởng” của Hồ đã làm cho lãnh tụ của ông ta không một chút tôn trọng.

Trong “Ho Chi Minh, A Biography” của Pierre Brocheux, trang 145, ghi: “Khrushchev also wrote that Stalin showed little sympathy for Ho, whom he called “a communist troglodyte” – Khrushchev đồng thời viết rằng Stalin tỏ ra không chút nào thiện cảm với Hồ, người mà ông gọi là “người cộng sản ngu dốt, như dã nhân kém văn minh thời tiền sử.”

Vấn đề ở đây một cách thực tế là đến thế kỷ 21 với thông tin nhanh nhẹn toàn cầu bằng internet, bằng radio, bằng telephone, khó mà có thể che dấu hay thêu dệt huyền thoại như Đảng đã từng làm trong quá khứ. Dù cố gắng ngày đêm ra công vẽ bùa hộ mạng cho chế độ, nhưng nỗ lực đó sẽ tồn tại được bao lâu? Nhà báo Oliver Todd nói rằng chỉ còn hai huyền thoại là Hồ Chí Minh và Che Guevara (cộng sản gốc Argentine), hai nhân vật lãnh đạo cộng sản được đánh bóng để tuyên truyền.

Phim tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh” đã góp phần vào việc xoá tan huyền thoại Hồ Chí Minh để đi đến mục đích của Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon. Mong rằng chúng ta sẽ đón nhận thêm về phần phim có tiếng Anh cho giới trẻ hải ngoại.

Bút Sử
7/2009

War Against Communism in Vietnam 1946-1954

Brief explanation about  Ho Chi Minh during 1945-1946

Evidences

March 9, 1945: Japanese overthrown French (being fear the Allies marching to Indochina)

March 11, 1945: Emperor Bao Dai declared Vietnam Independent. The protectorate treaty 1884 between French and Vietnam was torn up. Continue reading

Tại Sao có ngày sinh nhật 19 5 1946 của HCM tại Hà Nội?

Nói về ngày 19/5 khi đề cập tới Hồ Chí Minh thì phải nói tơi hai hiện tượng đặc biệt liên quan tới ngày này. Trước hết, 19/5/1941 là ngày Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này, thành lập Mặt Trận Việt Minh tại Cao Bằng. Hiện tượng đáng kể nữa là 19/5/1946 là ngày Hồ Chí Minh đón tiếp đô đốc Georges Thierry d’ Argenlieu ra Hà Nội. Dù sao, những nhận xét ghị lại của một số học giả và nhân chứng cho rằng Hồ Chí Minh đã chọn ngày 19/5 làm ngày sinh nhật ngay sau khi gặp d’ Argenlieu.

Nhân chứng sống nói về ngày này là ông Vũ Thư Hiên. Ông Hiên trong video “Sự Thật về Hồ Chí Minh” nói rằng cha ông là Vũ Đình Hùynh đã được lệnh từ Hồ Chí Minh tổ chức ngày sinh nhật 19/5/1946 cho ông ta.

Bài viết này xin dựa vào tài liệu trong “Britain in Vietnam, Prelude to Disaster, 1945-1946” tác giả Peter Neville. Về sự việc này, ông Neville có ghi, (page 146):

On 18 May, d’Argenlieu made a visit to Hanoi to talk about the forthcoming peace talks. He was greated at the airport by Valluy, the Chinese General Lu Han, Giap…. D’Argenlieu noticed how the local colons were ‘smiling and applauding’ on his route into Hanoi. He met Ho Chi Minh the next day…Vào ngày 18/5, d’Argenlieu đến viếng Hà Nội để nói về cuộc nói chuyện về hòa bình sắp diễn ra. Ông đã được tiếp đón tử tế tại phi trường bởi ông Valluy, Lữ Hán, Giáp….D’Argenlieu để ý thấy những người dân trong vùng ‘mỉm cười vỗ tay’ trên đường ông tới Hà Nội. Ông đã gặp Hồ Chí Minh ngày hôm sau.

Tại sao Hồ Chí Minh phải chuẩn bị tiếp đón đô đốc d’ Argenlieu long trọng vậy? Những người dân bị triệu tập ra đường đón chào ‘cười vỗ tay’ mà tác giả để trong dấu ngoặc (theo hồi ký của d’Argenlieu). Và ngày hôm sau 19/5/46 thì dân chúng tưng bừng hơn với hoa giăng đầy đường khi d’Argenlieu đến gặp ông Hồ, rồi từ đó đến nay ngày ấy được đánh dấu ngày mừng sinh nhật của Hồ Chí Minh.

Trả lời tại sao có hiện tượng này thì có thể trình bày từng mốc điểm mà khởi mốc quan trọng là ngày 6/3/1946 khi Sainteny dại diện nước Pháp ký với Hồ Chí Minh Hiệp Ước Sơ Bộ.

Hồ Chí Minh được thế giới biết là một người giỏi về mẹo vặt, ông ta có thể uyển chuyển xoay trở tình thế bằng lối tình cảm để mua chuộc đối phương, làm mê hoặc người khác (charm), màu mè để che giấu những điều không tốt bên trong. Trong hòan cảnh khi gặp đô đốc d’Argenlieu, Hồ Chí Minh đang trong thế rất bi đát, bởi vì trước đó đã có những chỉ dấu bất lợi cho Hồ trong tương lai rất gần.

Khi d’Argenlieu khám phá ra đã có Hiệp Ước Sơ Bộ và trong đó có một điều khỏan vô cùng quan trọng mà ông quyết tâm chống đối tới cùng. Đó là việc “thống nhất 3 Kỳ”, tức là Bắc Trung Nam thành một. Đây là một âm mưu của Hồ Chí Minh và phe cánh đang nắm quyền quốc hội bên Pháp thuộc Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Xã Hội, mà đại diện là Maurice Thorez, Marius Moutet, Jean Sainteny, Felix Gouin làm ra. Họ bằng lòng nhau Hiệp Ước Sơ Bộ và ngay ngày hôm sau, 7/3/1946, một buổi lễ Pháp công nhận nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” diễn ra tại Hà Nội , một thứ công nhận mà Hồ Chí Minh luôn mong đợi, dù trước đó, trước ngày 2/9/1945, phe Việt Minh đã tốn công sức rất nhiều muốn Hoa Kỳ công nhận, nhưng Hoa Kỳ làm ngơ vì biết Hồ chính là quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc.

Đô đốc d’Argenlieu cho rằng đây là một hiệp ước cẩu thả, có tính độc tài, không quan tâm tới các nước khác như Miên và Lào vì họ cũng thuộc Đông Dương trong quyền hạn mà d’Argenlieu trách nhiệm. Nếu Hiệp Ước Sơ Bộ chỉ nói riêng cho “Việt Nam độc lập” trong Liên Hiệp Pháp thì 2 nước kia tính sao? D’Argenlieu rất bất mãn trong tình huống này, dù biết âm mưu của phe cánh cộng sản 2 bên. Liền sau vụ 6/3, ông than với tướng Valluy, thay thế Leclerc, (page 145):

I am amazed General, that it is the only word I can use, amazed that France’s leaders prefer negotiations to action when we have such a magnificent expeditionary force in Indochina– Tôi kinh ngạc, đó là từ mà tôi chỉ có thể dùng, kinh ngạc rằng những nhà lãnh đạo nước Pháp chọn sự điều đình để hành động trong khi chúng ta đang có một lực lượng quân đội viễn chinh rất hùng mạnh.

Lực lượng còn hùng mạnh mặc dù ngay lúc đó quân Anh đã rút ( General Douglas Gracey đã rời Saigon ngày 28/1/1946). Người Anh và Pháp đến Nam Việt Nam ngay sau lúc thế chiến thứ 2 kết thúc để làm phận sự dẹp tàn quân Nhật, giúp dân Pháp di tản khỏi Việt Nam, giải tỏa những người còn bị tù…Bên cạnh đó vai trò của Pháp khi theo chân Anh về Việt Nam là để đương đầu với làn sóng đỏ cộng sản mà hiện tượng 2/9/1945 tại miền Bắc kéo theo 23/9/1945 tại miền Nam là trận đánh nhau giữa Việt Cộng và Pháp. Ngay lúc này Hoa Kỳ đã lo sợ sự lan rộng của Liên Sô. Hồ Chí Minh chưa được Liên Sô viện trợ vì Stalin đang bận rộn bành trướng ở Âu Chậu. Người dân Saigon đã thấy ồn ào đòan xe phô trương của Mỹ như jeeps, xe tải, và ngay cả thiết giáp…Chiến tranh lạnh đã đến, chứ không đợi khi quân đội Hoa Kỳ thực sự đóng quân tại miền Nam vào 1965, theo ông Neville.

(page 122): Moscow was much more interested in the situation in metropolitan France where the French Communist Party under Maurice Thorez was close to coming to power– Moscow đang chú ý nhiều hơn về tình trạng tại nước Pháp văn minh nơi Đảng Cộng Sản Pháp dưới sự lãnh đạo của Maurice Thorez đã sắp nắm quyền.


HCM A Biography, Pierre Brocheux -Tướng Pháp Leclerc, Hồ Chí Minh, đại sứ Pháp Sainteny chúc mừng nhau sau khi ký Hiệp Ước Sơ Bô.

Đó là tại sao dẫn đến việc ký Hiệp Ước Sơ Bộ một cách nhanh chóng. Phe cộng sản Pháp lợi dụng vai trò “thực dân” của Pháp để hỗ trợ tiếp ứng cùng Việt Minh làm cho phe d’Argenlieu bị mang tiếng, ngay cả công dân Hoa Kỳ cũng còn nghi ngờ Pháp đang muốn trở lại để thực dân. Pháp thực dân đã rời khỏi Việt Nam sau khi Nhật đảo chánh vào 3/1945. Vua Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập bên cạnh sự tiếp ứng của Nhật, nhưng sau vụ 2 trái bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki vào 6 và 9/8/1945 mà Nhật phải đầu hàng đồng minh. Khỏang trống chính trị tại Việt Nam trong vòng 9 ngày tạo cơ hội cho Việt Minh cướp chính quyền ngày 19/8/1945.

(page 108):…d’Argenlieu arrived in Saigon, he was ‘contemplating the vision of independence but he eventually set his face against negotiations with the Viet Minh’…he was prepared to consider the possibility of some sort of independence on arrival in Vietnam, according to his defenders – D’Argenlieu đến Saigon, ông ta luôn nghĩ tới một Việt Nam độc lập, nhưng cuối cùng thì phải đụng độ chống lại những cuộc điều đình với Vịêt Minh…

Khi d’Argenlieu đến Đông Dương với vai trò đô đốc vào 10/1945 thì de Gaulle một mặt chuẩn bị sắp xếp cho miền Nam Việt Nam có bộ mặt chính trị mới. De Gaulle và hòang tử Vĩnh San đã gặp nhau ngày 14/12/1945 và Vĩnh San bằng lòng trở về Việt Nam với điều kiện lá cờ quốc gia Việt Nam và Pháp được treo song song tại Hà Nội, Huế, Saigon trong giai đọan tạm thời độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Nhưng rồi hòang tử Vĩnh San đã tử nạn máy bay ngày 24/12/1945 trên đường từ Fort Lamy đến Bangui. Chương trình của de Gaulle của một Việt Nam độc lập cũng tan biến luôn sau khi ông từ chức ngày 20/1/1946.

Cái chết của hòang tử Vĩnh San là một nghi vấn về chính trị. Đến 1987 hài cốt của Vĩnh San được mang về Việt Nam trong nghi thức tuyên dương long trọng bởi thủ tướng cộng sản Phạm Văn Đồng. Có dư luận bên Âu Châu cho rằng sau 4 tháng ở Pháp vận động để được Pháp công nhận nhưng thất bại, ông Hồ về bằng đường tàu biển trên chiếc Dumont d’ Urville, ông từ chối đi máy bay vì sợ bị như trong trường hợp hòang tử Vĩnh San (bị phe đối phương thủ tiêu).

Vì thấy ra âm mưu nhuộm đỏ luôn miền Trung và Nam trong Hiệp Ước Sơ Bộ nên d’Argenlieu triệu tập ngay buổi họp mặt với Hồ Chí Minh trên tàu Emile Berlin ngay vùng Vịnh Hạ Long ngày 24/3/1946. Trong hồi ký, d’Argenlieu đã ghi lại về Hồ khi nhìn ông ta:

(page 143): “ A Moscow trained and chief of the Indochinese Communist Party – một người được huấn luyện tại Moscow, một thủ lãnh của Đảng Cộng Sản Đông Dương.”

Khi đối thọai, Hồ Chí Minh chỉ nhắc tới càng sớm càng tốt chuyện thực hiện Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 và việc này sẽ xảy ra tại Fontainebleau bên Pháp bắt đầu vào 6/ 7/1946 . D’Argenlieu nói với Hồ là khi bàn về hiệp ước đó thì phải qua ý kiến của 3 Kỳ:

(page 143): France would address the issue of the Three Ky (reunification) by accepting the decision of the people of Tonkin, Annam, and Cochin China in referendums – Nước Pháp muốn nói tới vấn đề Ba Kỳ (thống nhất) bằng cách chấp thuận quyết định của nhân dân tại miền Bắc, miền Trung, và miến Nam trong một cuộc trưng cầu dân ý.


 Hồ Chí Minh, Sainteny, Leclerc trên tàu Pháp tại Vịnh Hạ Long

Lúc này Hồ đã đóan biết ý định của d’Argenlieu là chống lại hòan tòan việc thống nhất 3 Kỳ vì như vậy là coi như dâng luôn 2 miền Trung và Nam cho cộng sản Hồ Chí Minh, một tay sai của đệ tam quốc tế. Ộng nói việc này phải qua một cuộc trưng cầu dân ý để lấy quyết định chung. D’Argenlieu ghi nhận thêm là ngày họp mặt tại Vịnh Hạ Long hôm đó có mặt của Sainteny và Leclerc, hai nhân vật thiên tả đã giúp Hồ ký hiệp ước.

Mục tiêu trước hết của hiệp ước là ông Hồ được Pháp (cộng sản) công nhận chính phủ do ông thành lập là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”.Thứ đến, Hồ Chí Minh chấp nhận cho 15 ngàn quân Pháp đóng ở miền Bắc mà không gì hơn là dùng bàn tay Pháp để triệt tiêu các đảng phái quốc gia, và việc này lịch sử đã ghi rõ. Khi bị lên án “Hồ Chí Minh bán nước” thì ông lại viện cớ là mang Pháp về để thay thế quân Tưởng Giới Thạch, trong khi Pháp và phe Tưởng đã ký với nhau một thỏa thuận ngày 28/2/1946, trong đó quân Tưởng cam kết rút khỏi miền Bắc (khi làm tròn phận sự giải giới tàn quân Nhật mà thế giới đã giao cho sau đệ II thế chiến) bắt đầu ngày 15/3/1946, chậm lắm là đến cuối tháng.

Trong phim tuyên truyền “Hồ Chí Minh, Chân Dung Một Con Người”, 1990, khi đến giai đọan nói về Hiệp Ước Sơ Bộ thì giọng nữ trong phim diễn giải rằng “Trước mặt là quân Pháp, sau lưng là quân Tưởng Giới Thạch, Hiệp Ước Trung-Pháp đã ký, Hồ Chủ Tịch đã gạc mũi dao sau lưng ký với đại diện Pháp Hiệp Định Sơ Bộ khiến cho 18 vạn quân Tàu Tưởng phải rút về nước….” Gạc mũi dao sau lưng nghĩa là gì? Thay vì chống Pháp như ông hô hào trước đây, ngay cả sau khi cướp chính quyền 19/8/1945, ông đã “ngọai giao” và tâng bốc phái đòan OSS của Mỹ bằng buổi xuống đường chống Pháp ngày 30/8/1945, thì khỏang 6 tháng sau ông lại mang Pháp về một cách trịnh trọng. Người dân đâu hiểu Pháp có 2 phe. Phe ông mang về để hợp tác chia chát quyền lợi trên đất nước Việt Nam là phe Đảng Cộng Sản Pháp và Xã Hội. Hành động mang Pháp cộng sản về để được công nhận, thực hiện giấc mộng cùng cộng sản Pháp, công sản Liên Sô nhuôm đỏ thế giới . Nhưng dù Pháp nào, ông Hồ cũng bị dân Hà Nội dán nhãn hiệu “Hồ Chí Minh bán nước!”
  Hồ Chí Minh và d’Argenlieu trong chiến hạm Pháp tại Vịnh Hạ Long

Phim đến đọan nói về buổi họp tại Vịnh Hạ Long, người diễn đọc tiếp :” Hãy nhìn đôi mắt bác Hồ trước ý định dọa nạt đó!” Không thể che đậy sự thất bại phô ra trên gương mặt, người làm phim lại cố ý cho người xem Hồ như là một nạn nhân. Đôi mắt Hồ Chí Minh quặm trợn tròng trắng nổi lên đầy nét hung tợn. Nói “dọa nạt” thì chưa có tài liệu nào chứng minh ông d’Argenlieu tỏ thái độ này.

Biết rõ âm mưu của Hồ Chí Minh, những bình luận gia thế giới so sánh Hiệp Ước Sơ Bộ này cũng mang tính chất của Brest Litovsk xảy ra vào 3/1918 khi phe Lenin ký với Đức.

Tại Pháp thì chính phủ thiên cộng Gouin không quan tâm tới những gì đô đốc d’Argenlieu đang đối đầu với Hồ Chí Minh. Còn ông Marius Moutet, Bộ Trưởng Hải Ngọai, là người bạn lâu năm của Hồ thuộc phe thân cộng, sau lúc hiệp ước này Moutet tỏ ra không ngạc nhiên về phản ứng của d’Argenlieu. Moutet cũng đang mất thế đứng tại chính trường.

4/1946 một cuộc họp nữa xảy ra tại Đà Lạt theo yêu cầu của d’Argenlieu để bàn tiếp. Phe cộng sản có Võ Nguyên Giáp. Trong cơn tức giận, Giáp gọi d’Argenlieu là “ông thầy tu hiểm độc, người đã phản bội lời nguyền” ( d’Argenlieu đã từng là linh mục vào thập niên 20), trong khi dân Pháp gọi ông là “the snow-covered volcano -núi lửa bao bọc bởi tuyết băng”. Sau buổi họp mặt, ông Giáp tỏ ra thất vọng vì biết chiến tranh không tránh khỏi. Nguyễn Tường Tam, phe quốc gia, cùng tháp tùng với Giáp. Ông Tam được chọn đi với phái đòan Phạm Văn Đồng sang Fontainebleau, nhưng sau đó ông Tam mất dạng. Vũ Hồng Khanh đã bị lừa ký vào Hiệp Ước Sơ Bộ, và đến 7/1946, cũng giống như ông Tam, khi biết ra sự thật 2 người đã trốn thóat sang Tàu.

Trước khi Hồ Chí Minh sang Pháp thì d’Argenlieu gặp Hồ một lần nữa. Như kể trên, khi tới Hà Nội ngày 19/5/1946 thì hiện tượng gọi là “mừng sinh nhật bác Hồ” xảy ra trên đường phố trước mặt d’Argenlieu. Điều này cho ngừơi ta nhận xét:

Hồ Chí Minh muốn níu kéo một lần cuối mong rằng d’Argenlieu sẽ thay đổi ý định chống đối để Hiệp Ước Sơ Bộ được chính thích hóa. Hơn nữa, quang cảnh người dân trong vùng mừng sinh nhật ông Hồ cũng có thể gieo vào đầu d’Argenlieu về một nhân vật lãnh đạo được dân chúng mến chuộng. Ông Vũ Thư Hiên nói là cho ông đô đốc d’Argenlieu “ấm lòng” là vậy. Rất có thể là hình ảnh người dân mừng sinh nhật ông Hồ khi tiếp đón viên chức cao cấp của Pháp cũng làm nhẹ đi sự chống đối lên án còn ầm ỉ về “Hồ Chí Minh bán nước.”

Có thể tóm tắt là qua những lần gặp mặt với d’Argenlieu tại Vịnh Hạ Long và Đà Lạt, phe Hồ Chí Minh đã biết Pháp tuyên chiến, rõ nhất là khi Hồ đang tiếp chuyện với d’Argenlieu thì nhóm bảo thủ Georges Bidault đang trên đà thắng thế trong quốc hội. Kết quả bầu cử ngày 2/6/1946: Phe Bảo Thủ Bidault 160 ghế, phe Đảng Cộng Sản Pháp Thorez 146 ghế, phe Đảng Xã Hội 115 ghế.

Phái đòan Phạm Văn Đồng về trước sau khi bị chính phủ Pháp làm ngơ không quan tâm tới vấn đề Hiệp Ước Sơ Bộ, riêng Hồ Chí Minh ở lại Pháp từ 2/6/1946-18/9/1946. Trước khi về nước, Hồ Chí Minh còn gõ cửa nhà ông Moutet lúc 1 giờ sáng để ép người bạn thiên cộng này, khi đang hết thế đứng ngòai chính trường, ký “Modus Vivendi – tạm ước ngày 14/9/1946”. Sách giáo khoa của Đảng gọi đó là “Tạm Ước Fontainebleau 14/9/1946” ký với Moutet là để “câu giờ” tìm phương cứu vãn, nhưng thực ra đã hết cách chỉ còn chuẩn bị chiến tranh. Từ thái độ van xin không được chấp thuận, Hồ dùng chiêu bài “Pháp trở về xâm lược” để kêu gọi tòan dân “kháng chiến” trong một đất nước mà Hồ từng tuyên bố vào 1945 là 95% dân chúng mù chữ.

19/5/1946 là lần cuối Hồ gặp d’Argenlieu, trước khi chính phủ Pháp bàn về Hiệp Ước Sơ Bộ tại Fontainebleau. Ngày này đánh dấu thái độ của Hồ Chí Minh o ép muốn đô đốc d’Argenlieu thay đổi ý định chống “thống nhất 3 Kỳ”, bởi vì việc này vô cùng quan trọng mà d’Argenlieu đã gợi ý cho Hồ trong 2 lần gặp trước tại Vịnh Hạ Long và Đà Lạt. Thái độ cứng rắn của ông đô đốc Đông Dương cùng những lý luận rất vững và hợp lý, cũng như chính trường tại Pháp đã nghiêng hẳn về phe chống cộng mà Hồ Chí Minh đã phải chấp nhận cuộc chiến tranh ý thức hệ, chính do Hồ là nguồn gốc, bắt đầu từ 12/1946.

Bút Sử
16/5/2010

Sources:Britain in Vietnam-Peter Neville, Why Vietnam-Archimede Patti, Ho Chi Minh -William Duiker, Ho Chi Minh a Biography- Pierre Brocheux, and others.

Tội Bán Nước của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh bán nước

Hồ Chí Minh tay sai cộng sản Pháp, phản quốc

Bàn về lá thư Hồ Chí Minh viết gửi bà Sô Dít, một phụ nữ thân cộng người Pháp lúc đó đang nắm một vai trò trong chính phủ, sau khi thất bại tại hội nghị Fontainebleau vào tháng 9 năm 1946. Thư này được đăng trong cuốn “Hồ Chí Minh – và Một Nửa Nhân Loại” tác giả Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân. Nội dung lá thư ông Hồ cầu khẩn bà Sô Dít hãy giúp ông bằng mọi cách để chính phủ Pháp công nhận “Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” được nằm trong liên hiệp Pháp. Đây được coi như một cố gắng gượng gạo cuối cùng của Hồ Chí Minh, mặc dù biết phần chắc chính phủ Pháp đã thuộc về phe hữu, tức chống cộng, ra mặt không ủng hộ như trước, và tương lai rất gần sự xung đột giữa hai bên trở nên nặng nề hơn.

Hồ Chí Minh viết: ” Theo như tạm ước ký ngày 15-9 vừa qua giữa chính phủ Pháp và chính phủ Việt Nam thì hai bên phải đình chỉ mọi cuộc xung đột. Về phần tôi, tôi sẽ hết sức mình để cho điều khoản này cũng như các điều khoản khác được thi hành một cách trung thực…Tôi mong rằng về phía những người bạn Pháp của tôi, họ cũng sẽ hành động như vậy…Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì tức khắc nước Pháp sẽ tranh thủ được trái tim và tình cảm của tất cả người Việt Nam. Và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng khối liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp tự do, vững chắc và anh em…Tán thành tinh thần bốn bể là anh em, cho nên tôi yêu mến…” Lá thư đề ngày 22 tháng 9 năm 1946, tức chỉ 7 ngày sau khi tạm ước được ký.

Trên thực tế thì tạm ước Modus Vivendi ký ngày 14/9/1946 rạng ngày 15/9/1946 giữa Hồ Chí Minh và bộ trưởng thuộc địa Marius Moutet không phải  giữa chính phủ Pháp và chính phủ Hồ Chí Minh, bởi vì Moutet chỉ là một viên chức của Bộ Thuộc Địa, không phải đại diện của quốc hội Pháp. Hồ Chí Minh trong 4 tháng ở bên Pháp (từ 2/6 đến 18/9/1946) đã vận động ngoại giao với các thành phần, nhất là các phe nhóm thuộc các đảng phái thân cộng như các ông Sainteney, Leclerc, Raymond Aubrac, Moutet…Hồ Chí Minh khi viết lá thư này đã tự đưa ra mâu thuẫn. Nếu chính phủ Pháp đã ký tạm ước một cách danh chánh ngôn thuận thì tại sao ông còn phải viết thư cầu cứu bà Sô Dít? Thật ra, ông Hồ tạo ra hiện tượng này là để “câu giờ” (đúng như sách báo Đảng đã viết). Mặt khác, khi trở lại Hà Nội, ông mang về cái “tạm ước” giả tạo này để làm tiếng vang trong dân chúng, cho người ta tưởng như đó là thật – Việt Minh đã nằm trong liên hiệp Pháp rồi.

Đến đây có lẽ người ta tự hỏi: Nhật đã đảo chánh Pháp vào 3/1945. Pháp đã ra khỏi Việt Nam và quốc trưởng Bảo Đại đã tuyên bố Việt Nam độc lập trước quốc dân. Nhưng rồi không lâu, Nhật rút khỏi Việt Nam và đầu hàng quân đội liên hiệp dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, ngày 19/8/1945, quốc tế cộng sản Nguyễn Aí Quốc (Hồ Chí Minh) lãnh đạo tập đoàn Việt Minh cướp chính quyền.  Việt Minh lúc này vẫn còn lên án Pháp đồng thời đổi qua thân Hoa Kỳ (xanh vỏ đỏ lòng). Khi không lợi dụng được Hoa Kỳ mặc dù cố gắng rất nhiều, Hồ đổi chiến thuật và quay qua  thân Pháp (chính phủ thân cộng Pháp) để mong được sự công nhận và hỗ trợ. Như vậy Hồ lấy lý do gì để biện hộ cho tội thân Pháp thay vì chống Pháp? Thế mà bấy lâu nay hằng triệu cuốn sách của Đảng lúc nào cũng cho là Hồ có công chống Pháp giành độc lập.

Ngay từ đầu, nếu Hồ Chí Minh không ký Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946 với Pháp (thân cộng) mang Pháp về tàn sát đồng bào, sát hại những thành phần chống Pháp như Quốc Dân Đảng, thì đâu có chiến tranh xảy ra, đâu có hằng chục ngàn thanh niên miền Bắc phải bị thiêu thân trong trận chiến 1946-1954. Bộ đội Việt Minh đâu biết rằng chính phủ Pháp khi đã có chiến tranh với Việt Minh là  sự tuyên chiến giữa hai phe  cộng sản và không cộng sản. Hồ Chí Minh  khéo léo lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để hô hào  kháng chiến chống Pháp “xâm lược.” Nhưng hãy tự hỏi, chính ông Hồ đã viết thư yêu cầu bà Sô Dít giúp ông làm mọi cách để mong Pháp trở lại kia mà? Ông Hồ mong Pháp và chính phủ của ông được nằm trong “liên hiệp Pháp” cùng Pháp hợp tác có lợi đôi bên kia mà. Trở lại với ngày Hồ từ Pháp trở về. Nếu ông Hồ khi về nước nói ngay ra là chính phủ Pháp đã thay đổi thành phần, đã quay lưng lại chống cộng sản thì rất nguy hiểm cho tập đoàn của ông. Lúc này các thành phần quốc gia đang có thái độ chống đối mạnh mẽ từ sau vụ Hồ Chí Minh ký hiệp ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946 với phe chính phủ Pháp thân cộng, mang 15 ngàn quân về chiếm đóng, đồng thời dùng Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Nếu người quốc gia biết chính phủ Pháp lúc này chống cộng sản thì chắc chắn là một lợi thế cho công cuộc đương đầu với tập đoàn cộng sản.Trong phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau do Phạm Văn Đồng hướng dẫn có một đại diện các khối chính đảng quốc gia. Nhóm này có tên Liên Việt, gồm toàn cán bộ cộng sản, ngoại trừ một vài người và cụ chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng.

Mục đích của Việt Minh là để làm lắng dịu sự chống đối của các khối quốc gia trong nước, ngay cả tại miền Nam. Vì sợ âm mưu bị tiết lộ, nên Hồ Chí Minh phải đi theo ngã riêng qua Pháp là vậy. Trong “Hồ Chí Minh – Chiến Sĩ Cách Mạng Quốc Tế” tác giả Phan Ngọc Liên và Trịnh Vương Hồng, trang 312:” Nội các Phêlic Goanh vừa đổ, ở Pari chẳng còn chính phủ để đón tiếp Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. ..” Chính sách này cũng xác nhận nội các của chính phủ dẫn đầu bởi Félix Gouin đã không còn nắm quyền nước Pháp, mà Gouin là phe thân cộng đã giúp Hồ Chí Minh mang Pháp về Việt Nam cai trị tiếp qua Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946. Theo tài liệu tình báo của OSS, vào 1946, Hoa Kỳ đã có những tài liệu mà họ gọi là “tam giác” giữa Félix Gouin, Nga, và Hồ Chí Minh.

Một sử liệu khác. Ban Giảng Huấn Việt Tộc, trụ sở tại Paris, Pháp, tài liệu ghi về “Biến Cố 19-8-45” có đoạn: “Ngay tối hôm đó, 2 giờ sáng ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh đích thân đến tư thất ông Bộ Trưởng Moutet để xin ký: ưng thuận các điều khoản của người Pháp đưa ra. Ông Moutet tiếp trong bộ quần áo ngủ, và hiệp định được ký trên đầu giường của ông và bà Bộ Trưởng Moutet. Trước khi ra đi thì Hồ chủ tịch có nói với một câu: Tôi đã ký bản án tử hình cho dân tộc tôi….Về dữ kiện này, những ai ở Paris có thể tìm kiếm trong các thư viện, những báo chí thời đó như Figaro, Le Monde hay Paris Match…thì sẽ thấy rõ như ban ngày.”

Như vậy tài liệu trên đã chứng minh rõ tâm địa của ông Hồ.Ông vì quyền lợi của quốc tế cộng sản và của phe cánh mà có hành động phản quốc như trên. Trong tạm ước Modus Vivendi cũng như hiệp ước Sơ Bộ trước đó, nội dung tương tự giống nhau, cũng là những điều khoản chia chát quyền lợi giữa Pháp thân cộng và Việt cộng. Lúc này là giai đoạn ông Hồ rất cần đồng minh làm thế che chở sau khi ông bị Hoa Kỳ bỏ rơi, mặc dù ông tốn nhiều công sức trước ngày 2/9/45 yêu cầu Hoa Kỳ nhìn nhận. Bản chất và bản thân của ông Hồ và tập đoàn là cộng sản, nhưng vì quyền lợi của Đảng mà ông lèo lái nghiêng ngả, khi thì chạy theo phe này, khi thì nạp mình cho phe khác, mập mờ ẩn ẩn hiện hiện…Rõ ràng nhất là việc ông bằng lòng với Pháp thân cộng mang 15 ngàn quân Pháp về Hải Phòng rồi tiến lên Hà Nội để đánh lại các đảng phái quốc gia.

Người Pháp đã ra đi sau vụ Nhật đảo chánh Pháp vào 3/1945. Pháp trở lại Việt Nam. Máy bay Mỹ chở Sainteney về Hà Nội ngay sau khi Nhật đầu hàng và Việt Minh cướp chính quyền 2/9/1945. Tại sao Mỹ giúp Pháp trở lại VN ngay lúc này? Nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, MacNamara, trong cuốn In Retrospect, trang 31, ông viết: “I knew that Ho Chi Minh had declared Vietnam’s independence after Japan’s surrender but that the United States had acquiesced to France’s return to Indochina for fear that a Franco-American split would make it harder to contain Soviet expansion in Europe.” Dịch nghĩa câu trên: “Tôi biết rằng Hồ Chí Minh đã tuyên bố Việt Nam độc lập sau khi Nhật đầu hàng nhưng Hoa Kỳ đã thừa nhận sự trở lại Đông Dương của Pháp bởi vì Hoa Kỳ lo sợ rằng sự tách rời của Pháp và Mỹ có thể sẽ khó khăn hơn để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Sô tại Âu Châu.” Như vậy luận điệu cho rằng Pháp trở lại Việt Nam để thiết lập chế độ thực dân là không tưởng và không có bằng chứng gì cụ thể. Ông McNamara cho rằng Pháp cần thiết trở lại Đông Dương, làm bàn chắn, và có sự liên kết thừa nhận của Hoa Kỳ cũng chỉ vì để kiềm hãm làn sóng đỏ của thế giới cộng sản. Hơn nữa, sau thế chiến thứ hai, các nước có thuộc địa bị thế giới ràng buộc phải trả lại độc lập cho bản xứ. Pháp đã trả độc lập cho Lebanon và Syria vào 1946 trước khi xảy ra cuộc chiến với Việt Minh 12/1946. Vai trò của Pháp trong lúc này không phải là thực dân hay xâm lược.

Trong tình hình tranh tối tranh sáng này, tại miền Nam thì De Gaulle cử Leclerc về phụ trách quân đội, còn D’argenlieu làm Thượng Sứ kiêm Tham Mưu Trưởng lực lượng Pháp ở Đông Dương. Như trình bày trên, vai trò của Pháp lúc này không phải với tư cách thực dân mà với nhiệm vụ khác hơn, bởi vì trong giai đoạn này các nước thuộc địa trong vùng đang có phong trào đòi độc lập. D’argenlieu lại là người của De Gaulle, được coi như không phải là phe ủng hộ độc tài cộng sản. Thế nên đã có một trận ấu đả giằng co giữa Phạm Văn Đồng và D’argenlieu tại hội nghị Fontainebleau khi hai bên không đồng ý các điều khoản trong hiệp ước Sơ Bộ. D’argenlieu nhất quyết không để Nam Kỳ bị lọt vào tay Hồ Chí Minh như trong hiệp ước đề ra gọi là “thống nhất ba kỳ. “Sử Địa 12ab,” 1974, nhà xuất bản Trường Thi, Saigon, trang 78, có ghi: “Ngay khi khai mạc Đồng chỉ trích nẩy lửa D’argenlieu. Hai bên bàn cãi hoàn toàn mâu thuẫn.”

Nước Pháp lúc này nằm trong giai đoạn vô cùng lủng củng. Chính phủ lâm thời 6/1944-1/1947 do 5 người thay phiên nhau lãnh đạo (Chairmen): Charles de Gaulle 6/1944-1/1946; Félix Gouin 1/1946-6/1946; Georges Bidault 6/1946-11/1946; Vincent Auriol 11/1946-12/1946; Leon Blum 12/1946-1/1947. Ngay lúc ký Hiệp Ước Sơ Bộ thì phe thân cộng Felix Gouin, nhưng đến 6/1946 phe chống cộng lên nắm quyền lãnh đạo bởi Georges Bidault, và đây là giai đoạn khốn đốn của Hồ Chí Minh, cũng là thời điểm mở màn cho cuộc chiến tranh Đông Dương từ 1946-1954.

Sách báo cộng sản, nhất là các bài và câu hỏi hướng dẫn học sinh sinh viên, khi viết tại sao Hồ Chí Minh ký Hiệp Uớc Sơ Bộ mang Pháp về cai trị lần hai, đã xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn. Họ cho rằng đó là “một biện pháp đúng đắn và sáng tạo, nhằm giúp ta tạm hòa với Pháp, nhanh chóng đuổi nhanh 20 ngàn quân Tưởng về nước…” Thật ra, sau khi thế chiến thứ hai gần kết thúc có hội nghị Posdam do Hoa Kỳ, Anh, Liên Sô đồng ý về việc buộc Nhật phải đầu hàng, và việc giải giới quân Nhật tại Việt Nam: Anh đảm nhiệm ở miền Nam, còn quân Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) lo liệu ở miền Bắc.

Cộng sản cho rằng ông Hồ mang Pháp về là để thay thế quân Tưởng vì cho rằng quân Tưởng sẽ “xâm lăng” miền Bắc để cai trị. Kế hoạch thâm hiểm này được ghi ra trong phần 2 của hiệp ước Sơ Bộ – “Việt Nam sẵn sàng thân mật tiếp đón quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa theo những hiệp ước quốc tế đã ký kết.”  Trên thực tế thì chưa có sử liệu nào ghi rõ rệt mục đích Pháp về Việt Nam để thay thế quân đội Trung Hoa, chỉ thấy ông Hồ và Pháp thân cộng đặt ra trong Hiệp Uớc Sơ Bộ mà thôi. Cũng như trong phần 1, hiệp ước ghi, trích từ “Sử Địa 12ab“:  “Pháp công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, quân đội riêng, tài chánh riêng trong liên bang Đông Dương và trong liên hiệp Pháp. Pháp thừa nhận kết quả cuộc trưng cầu dân ý về sự  thống nhất ba kỳ.” Lại cũng là luận điệu của người làm ra hiệp ước theo ý của họ. Cuộc trưng cầu dân ý về sự thống nhất ba miền xảy ra hồi nào và ở đâu? Người dân miền Nam có biết chút gì về vấn đề thống nhất này không? Chắc chắn là không. Miền Nam đã có chính phủ tự trị. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được bầu làm chủ tịch lâm thời Cộng Hòa Nam Kỳ, không liên hệ gì với phe cánh cộng sản của Hồ Chí Minh. Như trình bày trên, ông D’argenlieu đã chống đối kịch liệt khi biết Hồ đã ghi ra như thế trong Hiệp Uớc Sơ Bộ.

Trở lại việc Hồ Chí Minh ký tạm ước Modus Vivendi, đêm 14 tháng 9, 1946 (có sách ghi tạm ước 14/9/1946 hay 15/9/1946 tính theo ngày Việt Nam), ông ta đã tự thú nhận trước mặt Moutet là “Tôi đã ký bản án tử hình cho dân tộc tôi!” Tại sao Hồ Chí Minh biết mình là kẻ có tội, xem vận mạng dân tộc như một trò chơi mà vẫn cứ làm? Ngay lúc Hồ thoát ra câu nói ấy, chắc chắn ông đã mường tượng hình ảnh đau thương của đồng bào ông, cảnh tượng chiến tranh kinh hoàng, chết chóc xảy ra… Hồ Chí Minh vẫn một mực đi theo con đường đã chọn. Người quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh không thể toàn mạng nếu không phục tùng chỉ đạo của đàn anh Nga Tàu. Kỷ luật sắt ông đã nằm lòng sau nhiều năm được huấn luyện làm người cộng sản. Hơn nữa, ông đang lãnh đạo một tập đoàn, và treo vào cổ dân miền Bắc một chế độ ngoại lai với đầy mỹ từ cao đẹp, trong đó có không ít người ủng hộ, dựa vào giáo điều từ Marx, Lenin, Stalin, Mao, ông không ngần ngại làm kẻ sát nhân để đạt được mục đích.

1. Hồ Chí Minh biết tạm ước này chỉ là một cách “câu giờ” mang về che mắt dân chúng và các thành phần “liên hiệp” người quốc gia. Nếu tạm ước  thật sự có giá trị thì kết quả cũng vẫn là chiến tranh, bởi vì đó là một hình thức cấu kết với ngoại bang, cỗng rắn cắn gà nhà. Chính Hồ cũng tự mình nói tạm ước là bản án tử hình cho dân tộc ông mà ông đã ký, bởi ông không thể trở thành người quốc gia yêu nước, mà ông phải dùng bất cứ phương tiện gì dù tàn độc đến đâu để thực hiện mục tiêu đề ra (cứu cánh biện minh cho phương tiện). Cứu cánh hay mục đích đó là nhuộm đỏ miền Bắc, và sau đó cả nước Việt Nam, cùng tiến lên nhuôm đỏ cả Đông Dương và toàn thế giới để đến đại đồng…

2. Trên thực tế thì quốc hội Pháp đang được  nắm quyền bởi phe không thân cộng (cộng sản gọi là phe hữu) nên dù muốn dù không Hồ Chí Minh vẫn là kẻ đối nghịch với Pháp, nên chiến tranh không thể tránh khỏi. Lúc này khối cộng sản tại Đông Âu đang hoành hành và là mối đe dọa khủng khiếp cho khối tự do. Việc Mỹ ủng hộ và cung cấp súng đạn cho Pháp đánh cộng sản tại Á Châu là điều cần thiết.

Hồ bàn kế họach lập chiêu bài sau khi bị Pháp tuyên chiến

Hồ lập chiêu bài, kế họach, sau khi bị Pháp tuyên chiến từ Fontainebleau

Ngày 19 tháng 12, 1946, Hồ Chí Minh viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.” Ông viết: Không! chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.” Đây là một sự ngụy biện trắng trợn. Hồ không dám nói ra sự thật tại sao Pháp lại chống ông ta, và nguyên do của cuộc chiến tranh này. Ông lại ngụy biện với chiêu bài Pháp “xâm lược” để nung đúc lòng tòan dân đứng lên kháng chiến. Ông kêu gọi toàn dân “hy sinh tất cả” ngụy dưới từ yêu nước để lùa toàn dân vào cuộc chiến, nhất là rất nhiều thanh niên đã mất mạng trong cuộc chiến 1946-1954, với chiến thuật biển người.

Tóm lại cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất tại Việt Nam xảy ra từ 12/1946- 5/1954 phải gọi là cuộc chiến giữa hai phe cộng sản và quốc gia, trong đó khối cộng sản, bắt đầu xuất hiện trên chiến trường sau thế chiến thứ hai, là mối đe dọa của phe tự do. Vì quyết tâm thực hiện mục tiêu của quốc tế cộng sản đề ra mà Hồ Chí Minh đã tạo ra nguyên nhân của cuộc chiến. Sau đó Hồ lại dùng chiêu bài “chống Pháp” để lùa người yêu nước vào lò lửa chiến tranh thì phải dùng bạo lực, phải tạo chiến tranh. Bài học này có phải được rút tỉa từ những kinh nghiệm lịch sử của phe cộng sản. Lenin cướp  chính quyền bên Nga?, và liền sau đó lãnh đạo Bolshevic của Lenin đã ký với Đức hiệp ước Brest – Litovst, sẵn sàng nhượng bộ một số đất đai cho Đức để mong sự hỗ trợ sau này. Có quan niệm cho rằng Hiệp Uớc Sơ Bộ 6/3/1946 có mục tiêu tương tự: làm cho Pháp thân cộng chính thức công nhận “chính phủ” vừa cướp được, và từ đó đặt nền móng cho chế độ, song song với việc giúp sức của Pháp; nhưng cuối cùng thì sự liên kết đã tan rã vì quốc hội Pháp từ 6/1946 đã thay đổi thành phần tức do phe chống cộng lãnh đạo.

Không gì chứng minh trung thực cho bằng lấy lời của Hồ Chí Minh về tội bán nước. “Hồ Chí Minh – Chiến Sĩ Cách Mạng Quốc Tế” trang 310 ghi: “Các loại kẻ thù của cách mạng trong và ngoài nước đều mong muốn chính quyền cách mạng sụp đổ, song nhân dân tuyệt đối tin tưởng Đảng và Nhà nước, vì cuộc đời chiến đấu, hy sinh của Người đã đảm bảo cho lòng tin vững chắc này như Người nói: Tôi Hồ Chí Minh, suốt đời cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc, không bao giờ bán nước.”” Tại sao Hồ Chí Minh tự biện hộ cho mình là không bao giờ bán nước? Thế thì có phải tiếng đồn trong dân gian đã lan rộng về hành động phản quốc của ông?

Bút Sử

Những Người Đàn Bà của HCM và Mẹ của Nông Đức Mạnh là ai?

Sau ngày cộng sản Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, nhiều tài liệu và tin tức được phổ biến về sự thật con người Hồ Chí Minh(HCM), cũng như về cuộc đời riêng tư của người lãnh tụ Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Mối tình với cô gái người Nùng tên Nông Thị Xuân được bạch hoá rõ ràng nhất qua nhiều nhân chứng còn sống viết và kể lại. Tại Hà Nội, cô Xuân được lệnh ở nhà riêng số 66 Hàng Bông Nhuộm, nhưng vẫn phải đến “gặp” bác Hồ. Năm 1956, Nông Thị Xuân sinh cho HCM một người con trai đặt tên Nguyễn Tất Trung. Sau đó Xuân có ý muốn chính thức hoá cuộc hôn nhân với “Hồ Chủ Tịch”.
Ngày 11 tháng 2, 1957, vào khoảng 7 giờ tối, Xuân được ô tô đón sang gặp HCM. Sáng hôm sau, ngày 12 tháng 2, 1957, công an báo tin cho cô Vàng (em cô Xuân) là Xuân đã chết vì tai nạn ô tô. Liền sau đó cô Vàng đến thăm xác chị ở nhà thương Phủ Doãn và chứng kiến biên bản khám nghiệm tử thi của bác sĩ. Bác sĩ cho biết nạn nhân không chết vì tai nạn ô tô, vì khám toàn cơ thể không có dấu hiệu gì cả ngoại trừ vết nứt trên sọ đầu, và bác sĩ đã tuyên bố, có thể nạn nhân bị trùm chăn trên đầu rồi bị đập bằng búa.
Cô Vàng vội chạy về báo tin ngay cho người chồng sắp cưới là một bộ đội đang bị thương tật sống ở tỉnh Cao Bằng. Vàng biết chắc rằng cô cũng sẽ bị thủ tiêu vì cô chứng kiến sự thật chị của cô do HCM âm mưu sát hại.Thật vậy, ngày 2 tháng 11, 1957, cô Vàng bị giết chết và xác được tìm thấy trên sông Bằng Giang, đến ngày 5 tháng 11 xác mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ.
Tin này được phổ biến rộng rãi hơn nhờ lá thư của anh bộ đội này đệ lên Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch Quốc Hội CHXHCN VN, vào ngày 29 tháng 7, 1983, trước khi anh qua đời sau cơn bạo bệnh. Trong lá thư anh bộ đội đã kể đầy đủ chi tiết những gì cô Vàng đã kể cho anh nghe, cả việc bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn được HCM giao phó trông coi cô Xuân. Trong thư kể lại hình ảnh Trần Quốc Hoàn đã hãm hiếp cô Xuân rất tàn nhẫn trước đó một tuần khi được lệnh giết cô Xuân. Hơn nữa, anh bộ đội còn cho rằng Nguyễn Tất Trung có thể bị thủ tiêu nếu bị tiết lộ tông tích. Do đó đến ngày hôm nay người ta chưa biết Nguyễn Tất Trung làm gì và ở đâu. Tuy nhiên, năm 2007, nhà văn đấu tranh trong nước, bà Trần Khải Thanh Thủy, đã tìm hiểu về tông tích của Trung và chính bà đã tìm gặp anh ta. Qua việc kể lại của Trần Khải Thanh Thủy người ta không ngần ngại gì nữa khi cho rằng Nguyễn Tất Trung chính là con của HCM. Được biết anh ta hiện đang được Đảng “nuôi” đàng hòang trong khu nhà khá sang trọng tại Hà Nội.Toàn bộ lá thư của anh bộ đội được đăng trong cuốn “Công Lý Đòi Hỏi” của cựu đảng viên Nguyễn Minh Cần, xuất bản 1997. Ông hiện tỵ nạn chính trị tại Nga. Ngoài ra, câu chuyện cô Xuân này cũng được nhắc tới trong cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên, cũng một cựu đảng viên.Nói chung về những người đàn bà trong đời HCM thì nhiều lắm. Người ta đã khám phá qua những tài liệu trong các văn khố bên Nga, bên Pháp, và các nơi. Sau hơn 20 năm sưu tầm nghiên cứu về con người HCM, ông William Duiker, mặc dù hâm mộ họ Hồ vì nghĩ rằng ông ta có lòng yêu nước (ông đã đọc những sách tuyên truyền của cộng sản?) cũng đã khám phá ra cái bản chất mưu mô của người cộng sản này, đồng thời tác giả còn đề cập đến những người phụ nữ đã đi qua trong đời Hồ.Một cách vắn tắt, trước tiên phải nói đến Tăng Tuyết Minh, người vợ Hồ cưới đầu tiên tại Canton,Trung quốc. Hai người có đám cưới hẳn hoi. Không nắm rõ hai người làm đám cưới ngày tháng nào, nhưng vào tháng 4, 1927, Hồ bỏ Tuyết Minh đi hoạt động ở các khu vực khác theo chỉ thị của quốc tế cộng sản. Hơn nữa trong lúc này phe Tưởng Giới Thạch đang ruồng bắt các tổ chức cộng sản nên Hồ tìm đường tẩu thóat cũng là lý do đáng kể.Sau đó thì phải nói tới mối tình được nhiều người bàn tán là giữa HCM và Nguyễn Thị Minh Khai vào đầu Xuân 1931. Theo Bùi Tín, một cựu đảng viên, lý lịch của Minh Khai được ghi trong tài liệu quốc tế cộng sản . Minh Khai ghi rõ ràng chồng là Lin (bí danh Nguyễn Ái Quốc tức HCM). Đã có lần ông Hồ đệ đơn lên cưới Minh Khai nhưng bị cấp trên Đảng Cộng Sản Quốc Tế bên Nga chưa cho phép. Minh Khai còn có bí danh là Trần Thai Lan, Phan Lan, nên sau khi HCM lấy bút hiệu T. Lan viết sách “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyên…” tự ca ngợi mình thì người ta cho rằng có thể Hồ lấy bút hiệu đó để tưởng nhớ đến Minh Khai, người nữ cán bộ cộng sản trẻ tuổi đã bị Pháp xử tử.

Trong “Ho Chi Minh” tác giả William Duiker có ghi một phụ nữ trẻ khác tên Lý Ưng Thuận (Lý Sâm), lúc đó là vợ của Hồ Tùng Mậu, đồng chí của HCM. Lý Sâm và HCM đã bị cảnh sát Hongkong bắt tại một phòng hotel khi hai người đang trong phòng ngủ, lúc 2 giờ sáng ngày 6, tháng 6, 1931.

Sau khi bị tù tại Hongkong, Hồ có tên mới là Tống Văn Sơ.  HCM đổi nhiều tên họ khác nhau để tiếp tục hoạt động. Có những nguồn tin cho biết khi ông trở về lại Nga, đàn anh cũng đã tìm cho Hồ một người phụ nữ Nga để làm vợ…Trong cuốn “Con Rồng Việt Nam” tác giả cựu hòang Bảo Đại ghi “Hồ Chí Minh có một người vợ Nga và có chung một người con gái, nhưng ông ta không bao giờ nhắc đến” ( trang 205). Sở dĩ cựu hoàng Bảo Đại biết chuyện này nhờ những dịp đi “công tác” với Võ Nguyên Giáp vào 1945. Sau khi cựu hoàng Bảo Đại biết rõ HCM là tên quốc tế cộng sản nên tìm đường lưu vong.

Một trong những người phụ nữ Tây Phương có cô Marie Bière. Thành Tín tức Bùi Tín ghi trong “Về Ba Ông Thánh”, xuất bản 5/1995, (trang 149): ” Theo tài liệu Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ với một cô đầm tên là Marie Biere nào đó..” Cũng theo Bùi Tín nói về tài liệu tham khảo của Sophie Judge, một nữ sử học gia Hoa Kỳ rành tiếng Việt đã bỏ nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về ông Hồ, nhất là 2 năm tại Moscow. Ông Hồ có người tình tên Vera Vasilieva. Vera có con gái riêng, và cô này kể cho bà Sophie nghe. “Về Ba Ông Thánh”, (trang 151): “Vào dịp đại hội 7 của quốc tế cộng sản, cô ta mới 10 tuổi, nhưng còn nhớ ông Hồ thường ghé chơi nhà mẹ cô ta và một số lần ngủ lại trên ghế dài vào năm 1934…”

Theo tài liệu của bà Sophie Judge, Bùi Tín, cùng sách trên (trang 153): “Anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt , luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm. Ông còn để lại khi về nước một va-ly áo quần ông sắm cho vợ ông tòan là lọai sang, cô bé Nga này lấy ra dùng bao nhiêu năm mới hết!” HCM còn “yêu” cả vợ của Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu.

Ông Hồ cặp tay đi dạo với một cô gái Tây phương trong một hình được phổ biến rộng rãi ngoài đời và internet cũng không lấy làm lạ.(hình từ nguồn của Sở Mật Thám của Pháp). Lúc này ông Hồ đã khá già, có lẽ trên 70.

Đàn ông hay đàn bà thay chồng đổi vợ cũng là lẽ thường. Cái đám cưới chính thức với Tăng Tuyết Minh đã có nhiều tài liệu để lại, nhưng HCM và Đảng chưa bao giờ tuyên bố Hồ có vợ con, đừng nói chi bao mối tình khác diễn ra sau đó. Đàn ông độc thân dẫn bạn gái đi dạo là chuyện rất thường, hoặc nhiều vợ nhiều con có khi cũng được thế gian thông cảm. Nhưng khác thường là HCM đã tự tạo cho mình thành một huyền thoại khi vào năm 1948, chính HCM lấy bút hiệu Trần Dân Tiên viết “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch” tự ca ngợi mình, cho mình còn độc thân, cả đời chỉ biết lo cho dân cho nước.

Ghi nhận quan trọng là sau khi trở lại Việt Nam vào đầu thập niên 40, HCM hoạt động trong hang Pac Bo để mưu toan cướp chính quyền vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim, Hồ đã có những cuộc tình nghĩ rằng không ai khám phá nhưng dưới ánh sáng mặt trời mọi chuyện cũng đều bị vỡ tung. Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện khi nhắc tới những cuộc tình của HCM cũng có đề cập một người phụ nữ tên Đỗ Thị Lạc ngoài những người tình nổi tiếng khác của Hồ. Bà này đã sinh cho HCM một người con gái, nhưng sau đó thì hai mẹ con đều mất tích.

Thêm nữa, trong sách “Năng Động Hồ Chí Minh,” tác giả Thép Mới (cộng sản) cũng đã ghi (trang 143): “Bác giới thiệu với bản làng người nữ cán bộ hôm qua cùng về với Bác: -Đây đồng chí Lạc thay cháu Nông Thị Trưng về đây ở với đồng bào…”

Nông Thị Trưng là ai?

Đặc biệt hơn hết là môt phụ nữ cũng người sắc tộc thiểu số, Tầy, khá xinh đẹp tên Nông Thị Ngác (không ngạc nhiên vì vùng rừng núi Cao Bằng làm sao có gái Việt Nam chính thống). Lý do câu chuyện tình đặc sắc này được nổi bật những năm sau này là do cuộc phỏng vấn của tờ báo Xuân trong nước vào năm 1997. Nhà báo có phỏng vấn bà Nông Thị Ngác, một chứng nhân sống nói về “Bác Hồ”. Bà Ngác đã không dấu diếm chi cả những gì đã xảy ra trong thời gian HCM tại hang Pac Bo vào đầu thập niên 40. Bà kể hằng ngày Ngác đến “học tập” với HCM ròng rã cả năm. Hồ căn dặn Ngác không nên gọi Hồ bằng “Bác” mà hãy gọi là “Chú Thu” và xưng “Cháu”. Thế thì sau đó chú cháu tiê’p tục học tập…

Được biết sau thời gian rời Pac Bo, HCM cướp chính quyền thành công, trở thành người lãnh tụ chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người nữ cán bộ gương mẫu mà Hồ yêu quý, tức Nông Thị Ngác, lại được cất chức làm Chánh Án Toà Án Nhân Dân tỉnh Cao Bằng…Ông Hồ yêu quý Ngác đến độ đặt cho người nữ cán bộ này một tên nữa là Nông Thị Trưng, ý giống như Trưng Trắc, Trưng Nhị vậy. Tin Nông Thị Ngác là ai cũng đã được người dân trong nước bàn tán. “Chú Thu” và “Cháu Trưng” cũng đã được nhắc tới trong các sách tuyên truyền của cộng sản, nhất là các tác giả Trần Khuê, Thép Mới…

Thép Mới kể lại trong “Năng Động Hồ Chí Minh” (trang 48) rằng sau 20 năm ngày rời Pac Bo, ông HCM trở lại, 1961, lúc này coi như sự nghiệp khá thành công, ông có thời giờ về thăm lại người cũ, cảnh xưa. Khi vào nhà thăm gia đình bà Ngác, HCM tiếp xúc với ông Dương Đại Lâm, người mà trước đây HCM đã gởi gắm Ngác vào gia đình (không nhắc Ngác đang ở đâu), các cháu vây quanh HCM thân mật. Tác giả còn nhấn mạnh một trong các cháu đã trở thành “thanh niên tuấn tú” góp phần xây dựng đất nước.

Cùng sách trên, Thép Mới ghi (trang 43): “Bác trực tiếp hỏi chuyện, nghe kể về hoàn cảnh gia đình và bản làng đau khổ, rất thương, nhận làm cháu nuôi, đặt cho bí danh là Trưng, Nông Thị Trưng. Trưng ở với vợ chồng Đại Lâm, tên tục là Sù, hàng ngày được đến lán Bác một giờ để Bác chỉ bảo.”…Như vậy rất rõ, Nông Thị Ngác có bí danh là Nông Thị Trưng.

Vào tháng 4, 2001, Nông Đức Mạnh từ một người chưa thâm niên về chính trị lại được đưa lên làm Tổng Bí Thư Đảng. Tin cho rằng Nông Đức Mạnh là con của HCM lan rộng khắp nơi, từ trong nước ra đến hải ngoại. Khi có lời đồn này dĩ nhiên phải có sự bắt nguồn nào đó đi ra. Được tin này báo ngoại quốc Time đã làm cuộc phỏng vấn hỏi Nông Đức Mạnh có phải là con của HCM? Ông Mạnh không trả lời xác quyết là phải hay không, nhưng nói là tại Việt Nam ai cũng là con cháu của Bác Hồ. Câu trả lời sau chót “chắc chắn ông ta không phải cha ruột của tôi” cũng không đủ tin Nông Đức Mạnh nói bằng sự thât.

Từ câu trả lời trên và thái độ dấu diếm thân thế gia đình, cùng với vai trò lãnh đạo tối cao một cách đi ngang, quần chúng dường như ai nấy đều ngầm nghi vấn Mạnh có phải là con của HCM? Vậy thì làm sao biết Mẹ của Nông Đức Mạnh là bà nào? May mắn thay cho những ai muốn tìm hiểu Nông Đức Mạnh là ai, vì chưa bao giờ Đảng Cộng Sản Việt Nam hay Nông Đức Mạnh tiết lộ với báo chí hay bất cứ ai biết về tên họ cha mẹ của Mạnh một cách rõ ràng, qua tài liệu sau đây.

Trong “Ho Chi Minh”, tác giả William Duiker, trang 575, viết: “In April 2001, the ralatively unknown government official Nong Duc Manh, widely rumored to be the illegitimate son of Ho Chi Minh, was elected general secretary of the VCP (Vietnamese Communist Party)- 14”

Số 14 để người đọc lật ra sau cuốn sách đọc tiếp footnote 14: “Nong Duc Manh has denied these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic minority, served as Ho’s servant after the latter’s return to Vietnam during the early 1940s…”

Dịch: Vào tháng 4, 2001, người vô danh tên Nông Đức Mạnh chính thức nhậm chức trong cơ quan chính quyền, dư luận xôn xao bàn tán rộng rãi cho rằng Mạnh là con trai rơi của Hồ Chí Minh, và ông ta đã được chọn làm Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nông Đức Mạnh phủ nhận những tin đồn này, nhưng ông ta lại công nhận rằng mẹ ông, một thành viên của dân tộc thiểu số Tầy, bà là người phục vụ ông Hồ sau khi ông Hồ trở về Việt Nam vào đầu thập niên 1940.

Nông Đức Mạnh sinh vào đầu thập niên 40. Báo Time phỏng vấn Mạnh vào 2002 và ghi ông ta được 61 tuổi. Như vậy thì ông Mạnh phải ra đời vào cuối 1941 hoặc 1942 . Sau ngày sách của Duiker xuất bản, 2000, và cuộc phỏng vấn của báo Time, trang web “Đảng CSVN” sửa tiểu sử Nông Đức Mạnh lung tung…Vào 2001, chính người viết có lần vào trang này thấy ghi rõ Nông Đức Mạnh con của “nhà cách mạng Nông Văn Lai và bà Hoàng Thị Nhị”, nhưng sau đó thì trống trơn không ghi gì cả . Biết đâu nhân vật Nông Văn Lai và Hoàng Thị Nhị này cũng giống như Lê Văn Tám mà Trần Huy Liệu đã nặn ra để lừa gạt mọi người trong nhiều thập niên qua? Hay Tạ Thị Kiều, một đặc công gái tưởng tượng, mà Xuân Vũ cũng một thời ca ngợi khi ông còn ở miền Bắc?

Rõ ràng câu trả lời của Nông Đức Mạnh trong sách của giáo sư Duiker và báo Time đã phần nào cho người đọc một kết luận về thân thế của ông ta. Mạnh đã trả lời mẹ là người Tầy, dân tộc thiểu số, phục vụ cho HCM trong thời gian Hồ trở về VN vào đầu thập niên 40.

Dư luận so sánh những câu chuyện kể của “Cháu Trưng” và “Chú Thu” khi Hồ ở hang Pac Bo cùng những tài liệu vừa trình bày trên để có những kết luận về cuộc đời tình ái của HCM và kẻ nối gót chính trị là ông Nông Đức Manh. HCM đã từng bị dân gian nêu danh là “bán nước hại dận”. Nay kẻ thừa kế tiếp tục con đường Hồ đã đi qua, tiếp tục làm tay sai cho đàn anh Tàu cộng, bán rẻ linh hồn cho quỷ đỏ, dâng đất nhượng biển, rước hàng chục ngàn dân Tàu cộng vào chiếm cứ miền Bắc và Trung hiện nay…

Bút Sử
Mùa Quốc Hận 30/4/2009
34 năm CS cưỡng chiếm miền Nam

Tuyên Truyền Tẩy Não Kỳ Dị

Bản tin từ đài RFA, 26/3/2010, do cô Ỷ Lan thực hiện phỏng vấn ông Thor Halvorssen, chủ tịch Sáng Lập Nhân Quyền (Human Rights Foundation, New York), Continue reading

Tuyên Truyền Tẩy Não Kỳ Dị

Bản tin từ đài RFA, 26/3/2010, do cô Ỷ Lan thực hiện phỏng vấn ông Thor Halvorssen, chủ tịch Sáng Lập Nhân Quyền (Human Rights Foundation, New York), khi ông viếng Hòa Thượng Thích Quảng Độ tại Saigon, nội dung chứng tỏ thêm về việc vô luật pháp bắt bớ tùy hứng của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

Quyền được tự do phát biểu, quyền được tôn kính và được chọn tôn giáo cho mình, quyền có thể được tham gia vào chính phủ của quốc gia mà người đó đang cư ngụ, quyền không bị nô lệ và bị hành hạ tra tấn…Trên là vài quyền trong số những quyền mà cơ sở Sáng Lập Nhân Quyền đã đề ra trong chủ trương.

Dù Halvorssen bước vào Việt Nam lần đầu tiên, ông đã nhận ra những dấu hiệu cho thấy những quyền căn bản hàng đầu trên đã hòan tòan không có. Khi đang thu thập kinh nghiệm và nhận ra bản chất chế độ trung thực hơn thì ông Halvorssen đã bị trở thành nạn nhân, một nhân chứng ghi thêm vào lịch sử chà đạp nhân quyền của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Lúc bước ra khỏi Thanh Minh Thiền Viện, Halvorssen bị công an không sắc phục bắt và hành hung, bản tin cho biết hình chụp lưng ông bị bầm tím.

Được hỏi về cảm nghĩ của ông về nhà cầm quyền cộng sản, ông nói ngay về “một cuộc tuyên truyền tẩy não kỳ dị. Màu sắc tuyên truyền sâu rộng trang trải khắp nơi. Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam.” Ông Halvorssen đã đi vào điểm chính về sự sống còn của chế độ, và có lẽ sự nhận xét bén nhạy này cũng một phần nhờ vào kinh nghiệm bản thân. Mẹ ông đã bị phe nhà nước Venezuela bắn bị thương trong lần xuống đường, 2004, cùng nhiều người tỏ thái độ ôn hòa ký tên đệ đơn yêu cầu Hugo Chavez xuống chức.

Tại sao Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam?

Một người Argentine đẹp trai tên Che Guevara đã giúp du kích quân của Fidel Castro “giải phóng” Cuba từ nhà nước Batista năm 1959. Đó chỉ là huyền thọai, cũng giống như Đảng Cộng Sản Việt Nam rao giảng Hồ Chí Minh có công “giành độc lập” từ tay “thực dân” Pháp. Nhưng rồi, dù thế nào, Che cũng đã trở thành gọi là một “nhà cách mạng” nổi tiếng thế giới làm nhiều người chấn động đứng lên cùng ông. Sau khi thành công tại Cuba, Guevara nổi dậy lãnh đạo cuộc phiến lọan tại Argentina, Congo, Bolivia, và sau đó bị xử tử vào 1967.

Theo giáo sư Douglas Young, thuộc Khoa Học Chính trị và Lịch Sử, tại đại học Gainesville State College, Che được hàng ngũ cộng sản đề cao như một anh hùng dám dấn thân làm cách mạng để đem “công bằng cho xã hội”. Họ dựng Che như một thánh tử của chủ nghĩa Marxist. Hình ảnh một người thanh niên trẻ tức giận đã lan rộng trong nhiều giới sinh viên của các trường đại học có thể nói trên 40 năm qua.

Trên thực tế thì Che có số điều giống Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Che chỉ là con cờ, là phương tiện truyền bá của Stalin, một cộng sản độc tài của Liên Sô đã giết trên 20 triệu dân của ông ta. Là một trong số sĩ quan trọng yếu của Castro, Che đã giúp làm những cuộc nổi dậy. Sau khi lật đổ Batista, Che đã chỉ đạo cuộc tàn sát hàng trăm nhân viên của Batista không cần tòa án. Ngay cả người nào bị nghi ngờ không trung thành với Castro cũng bị giết không cần biện hộ. Đồng chủ trương như Hồ Chí Minh, người cộng sản Che chỉ thấy vấn đề hai mặt trắng và đen. Ai không theo đường lối của Che thì bị thanh tóan ngay. Hồ Chí Minh và Che chống tự do tôn giáo, ngôn luận, hội họp, báo chí, biểu tình… So sánh thì Che không thể qua mặt Hồ Chí Minh về thủ đoạn, và con số giết người của Hồ cao nhiều lần của Che. Che chỉ sống có 39 năm để làm tội ác.

Bây giờ lại có phong trào thanh niên mê nhạc rock mặc áo Che t-shirts, và như vậy có phải thành phần gọi là tự do (liberals) vẫn còn như những thập niên trươc? Câu hỏi là cái tư tưởng tự do không nền tảng đó dần dà có dẫn dắt tới nguy hại cho nền tự do dân chủ đích thực hay không? Dù sao người ta có thể vẫn tin vào kiến thức cao về dân chủ của công dân Hoa Kỳ và hơn bao giờ hết chính Che là người tạo dựng giúp Fidel Castro để Cuba trở thành cộng sản, một đe doạ cho Hoa Kỳ mà nhiều thập niên qua Hoa Kỳ vẫn cứng rắn cấm vận Cuba.

Nói như trên không có nghĩa là ý thức hệ cộng sản không còn là đe dọa cho nền hòa bình thế giới. Tiểu bang California vào 9/2008, thống đốc Arnold Schwarzenegger đã ký phủ quyết dự luật SB 1322, trong thư giải nghĩa rằng dự luật này giống như là một âm mưu lật đổ chính phủ tự do dân chủ Hoa Kỳ khởi đầu ngay tại California, và rất bất công khi người tỵ nạn cộng sản phải một lần nữa là nạn nhân. Dân biểu của tiểu bang California hầu hết là người của Đảng Dân Chủ đã biểu quyết thông qua dự luật. Dự luật làm ra bởi Senator Alan Lowenthal bác bỏ một số điều kiện để trở thành giáo chức có từ thời tổng thống Eisenhower, nghĩa là SB 1322 cho phép đảng viên cộng sản được quyền dạy học trong tòan thể California. Rất may, dân biểu Trần Thái Văn và các dân biểu khác thuộc Đảng Cộng Hòa vận động cùng đồng hương Mỹ gốc Việt lên tiếng chống lại, và cuối cùng dự luật đã thất bại. Tuy nhiên, ông Schwarzenegger không bao lâu sẽ chấm dứt nhiệm kỳ, thống đốc kế tiếp có lập trường như thế nào, và dự luật có thể trở lại hay không?

Gần đây tiến sĩ Roger Canfield cho ra cuốn “How the Ameri-Cong Won the Vietnam War Against the Common Enemy America” để nhắc lại cho thế giới thấy rằng cộng sản miền Bắc lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh đã liên hệ với quốc tế cộng sản như thế nào, và nhấn mạnh Mỹ Cộng là một thành phần quan trọng trong khối đó. Tại sao hơn 5 thập niên qua không ai đưa ra và trình bày hiểm họa của những người Mỹ mang danh “liberals”, “democrat” hay gì đi nữa và đầu óc họ vẫn là thiên cộng? Ngày đó họ là Black Panthers, học viên của Saul Alinsky, đệ tử của Malcolm X , hàng ngũ của William Ayers, giới báo chí thiên cộng, người hành động (activists) như John Kerry, William Clinton, Hillary Rodham, Jane Fonda, Tom Heyden, Martin Luther King, Daniel Ellsberg, sinh viên đại học,v.v..hay đảng viên chính thức có tổ chức là Communist Party of the United States (CPUSA) để đến nay ông Canfield phải trình bày hơn 1000 trang chính thức gọi họ là Ameri-Cong hay ta dịch ra là Mỹ Cộng?

Thor Halvorssen đã đưa ra nhận xét liên quan tới cái nhìn của thế giới ngày nay về một Việt Nam mà quyền làm người của dân chúng bị tước đọat coi như hòan tòan.Thế giới và cả Hoa Kỳ chẳng có chút quan tâm. Thỉnh thỏang thì một vài dân biểu lên tíếng nhân quyền này nọ rồi cũng như nói cho có lệ. Thành phần Mỹ Cộng mà sau lưng họ là khối quốc tế cộng sản hàng năm chi vào Hoa Kỳ hơn 3 tỷ Mỹ kim để họat động, họ là nguyên nhân chánh để miền Nam bị rơi vào tay cộng sản, họ đã sách động biểu tình chống chiến tranh, đòi tổng thống Johnson và Nixon rút quân. Thống đốc Ronald Reagan đã phải đau lòng tuyên bố: Chấm dứt sự xung đột mâu thuẫn không thể đơn giản chỉ là ra lệnh ngừng chiến, rút quân và trở về nhà, bởi vì cái giá phải trả cho loại hoà bình đó có thể là hằng ngàn năm tăm tối cho những thế hệ chưa sinh ra đời.

Ngày nay khi ông Halvorssen tới Việt Nam, có phải ông chứng nghiệm những người cùng thế hệ của ông (Halvorssen sinh 1976) đã và đang sống trong sự tăm tối. Một xã hội vô luật pháp, bắt và hành hạ người theo lệnh Đảng, ngược đãi người tu hành, cướp bốc nhà đất dân, cấm dân không được truy tìm đọc tài liệu dân chủ nước ngòai, cùng bao nhiêu thứ bất công khác có phải là cái giá phải trả cho thứ “hòa bình” mà Mỹ Cộng từ thập niên 60 đến đầu 70 đã từng cầm khẩu hiệu hô la trên đường phố Washington, New York, Massachusetts, Chicago, Berkeley…?

“Ho, Ho, Ho…Che, Che, Che…” là điệp ngữ trong một bài ca mà Mỹ Cộng đã vang dội ngòai đường phố khi giăng hình Che, hình Hồ, cờ đỏ xanh ngôi sao vàng đòi hỏi chính phủ rút quân. Vài năm gần đây Che lại được nhắc nhở trở lại, học sinh tại Việt Nam có những buổi học tập, cấm trại, với nghệ thuật chủ đề là Che Guevara; ngay cả một diễn đàn thơ văn trong Yahoo Groups lại ca ngợi thơ của Che vô tình không biết Che là tên cộng sản khát máu vùng Nam Mỹ vào thập niên 60, hay là chủ ý thêu dệt “thần tượng” cộng sản? Dù thế nào thì thế giới người Việt tỵ nạn cộng sản cũng không mấy chú ý về tên cộng sản sừng sỏ này, và cho tới nay có một vài nhân vật khi nói tới Che thì nhớ tới Hồ Chí Minh để cho người ta có cơ hội hâm nóng thêm về hai huyền thoại và tội ác của hai tên cộng sản lãnh đạo này.

Halvorssen đi ra từ gia đình là nạn nhân của chế độ thân cộng tại Venezuela nên khi nhìn hình tượng Hồ Chí Minh mọi nơi tại Việt Nam ông ta nghĩ ngay tới Che, bởi vì hình ảnh Che cũng đầy mọi nẻo đường ở Nam Mỹ nơi có hơi hướng cộng sản. Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam. Đúng vậy, cũng giống như nhà báo người Pháp, Oliver Todd, trong bộ phim tài liệu “Sư Thật về Hồ Chí Minh” do Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon thực hiện, ông đã cho rằng trên thế giới ngày nay chỉ còn hai huyền thọai để tuyên truyền, đó là Hồ Chí Minh và Che Guevara.

“Một chính quyền tuyệt đối cộng sản nhưng đồng thời cũng là tư bản, thật là điều quá ư kỳ quặc.” Khi ông Thor Halvorssen cho là tuyệt đối cộng sản có nghĩa là mọi thứ tự do của người dân đều bị tước đọat, điển hình là Hòa Thượng Thích Quảng Độ sau khi ra tù thì bị tù tại gia, bị kiểm sóat, lúc nào cũng có công an canh gác. Vừa cộng sản lại vừa tư bản mới là điều quái dị, trong khi trên lý thuyết thì chủ nghĩa cộng sản cốt lõi là tiêu diệt tư bản. Thế nên từ trên 6 thập niên qua tại miền Bắc, và hơn hết là từ khi có bang giao Việt Mỹ 1995, Việt Nam chưa hề có dấu hiệu cải tiến kinh tế một cách bình thường tự nhiên, mà có tính cách vá víu, phồn vinh giả tạo, không có cơ sở vững vàng từ hạ lên tới thượng tầng. Học sinh, sinh viên bị nhào nắn méo mó, không có căn bản rõ ràng trên ý thức hệ cộng sản và tự do tư bản.

Theo tiến sĩ Douglas Young, cũng y như Hồ Chí Minh, Che là người luôn tự đánh bóng mình (narcissist). Che nói: Tôi không có nhà, không vợ con, không cha mẹ, không anh em. Bạn của tôi là những người nghĩ giống tôi về phương diện chính trị. Cũng không khác Hồ Chí Minh về đường tình ái, Che rời Cuba giữa thập niên 60 trong lúc đang xảy ra tình trạng bừa bãi về gia đình riêng tư của ông ta. Mặc dù lúc nào Che cũng tuyên bố là ông ta trinh trắng chưa bao giờ biết đàn bà, nhưng trên thực tế thì Che là một người đàn ông dâm lọan. Ông ta chơi hoa rồi bẻ cành. Ông đã bỏ bê hai người vợ, và nhiều người con. Vài bà vợ thì chính thức và một số khác thì không.

Không khắc nghiệt như ở Việt Nam, tượng một nửa người của Che được khánh thành tại một khu phố thuộc nước Venezuela vào 7/2006 thì chín ngày sau tượng đã bị dân chúng chặt đầu. Dân Venezuela cho rằng Hugo Chavez là tay sai của độc tài cộng sản Cuba, Fidel Castro, họ rất ghét “thần tượng” Che.

Có một bài viết được phổ biến trên internet cách nay vài tháng tựa là Che Guevara là Hồ Chí Minh của Nam Mỹ” tác giả Nguyễn Việt Nữ, và mới đây Thor Halvorssen trả lời với đài RFA Hồ Chí Minh là Che Guevara của Việt Nam xét ra cũng thật là đồng điệu với Oliver Todd khi cho rằng “ngày nay trên thế giới chỉ còn hai huyền thọai Hồ Chí Minh và Che Guevara để tuyên truyền.

Bút Sử
3/2010


Cuộc Chiến Tranh Ý Thức Hệ:1946-1954

Sự thật về Hồ Chí Minh đã được phơi bày càng ngày càng nhiều qua những hệ thống thông tin rộng rãi. Người ta đã biết ông Hồ có nhiều vợ, ít nhất 2 người con. Chính ông và Đảng dựng Hồ thành một người làm thơ có tầm vóc, tạo ra ấn tượng “nhà văn hóa lớn“, nắn nót Hồ thành một người có hoài bảo, một thanh niên tuổi còn rất trẻ đã biết lên chiếc tàu Pháp ra đi “tìm đường cứu nước”, v..v. Tuy nhiên, có một số sự kiện lịch sử mà Đảng dựa vào nhiều nhất để tiếp tục tuyên truyền. Bài viết này khai thác thêm những sử kiện tạo nên cuộc Chiến Tranh Đông Dương đầu tiên và ý nghĩa của nó để mong soi sáng thêm dòng lịch sử cận đại .

Sau khi Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Saigon phổ biến DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” thì tại Việt Nam các báo Đảng phản ứng bằng những bài viết bôi lọ và xuyên tạc, cũng như các cán bộ nằm vùng tại hải ngoại tung bài trên mạng internet để chỉ trích. Đồng ý rằng không một bộ phim nào có thể đưa lên tất cả mọi mặt trên một vấn đề, kể cả các phim ngoại quốc, nhưng nhóm thực hiện phim đã được sự hưởng ứng cao độ từ các thành phần trong nhiều cộng đồng trên thế giới. Nhiều lần linh mục Nguyễn Hữu Lễ, đại diện cho Phong Trào, đã gợi ý rằng phim mục đích chánh dành cho người Việt trong nước và giới trẻ sinh sau đẻ muộn chưa biết gì về ông Hồ, hoặc có biết thì chỉ là tuyên truyền một chiều từ Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.

Khi lướt qua một số ý kiến, có thể là của giới trẻ trong nước về phim, người ta nhận thấy là thành phần chống lại phim nêu ra một vài luận điệu:

-Chấp nhận những gì phim trình bày là sự thật.
– Hồ Chí Minh phải theo cộng sản để được quốc tế cộng sản hỗ trợ sau khi cướp chính quyền, bởi vì chính phủ Mỹ đã không giúp Hồ Chí Minh.
-Dù sao thì Hồ Chí Minh cũng có công trong cuộc “kháng chiến giành độc lập.”

TẠI SAO HOA KỲ KHÔNG CHẤP NHẬN HỒ CHÍ MINH?

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền Trần Trọng Kim 19/8/1945, Hồ Chí Minh ra công vận động ráo riết để mong Hoa Kỳ công nhận “chính phủ” ông sắp ra mắt trước công chúng. Việt Minh đã tổ chức những buổi xuống đường “hoan hô phái bộ đồng minh OSS” (Office of Strategic Services – Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ) nhưng hoàn toàn thất bại. Rõ ràng nhất ngay ngày 2/9/1945, Mỹ đã không hiện diện tại Ba Đình, ngoại trừ 4 nhân viên của OSS đứng trong đám đông, nơi diễn ra đại lễ gọi là Hồ Chí Minh đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập.”

On 23 September 1945, with the knowledge of the British Commander in Saigon, French forces overthrew the local DRV government, and declared French authority restored in Cochinchina (The Pentagon Papers, Gravel Edition, Bacground to the Crisis 1940-50, Boston: Beacon Press, 1971).Vào ngày 23/9/1945, với hiểu biết sâu rộng của chỉ huy trưởng lực lượng quân đội Anh tại Saigon, quân Pháp đã đánh bại thành phần cộng sản tại địa phương (thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – con đẻ của cộng sản miền Bắc), và Pháp tuyên bố tái lập quyền lực tại Đông Dương.
Sự kiện trên cho chúng ta thấy rằng, Pháp trong thế phải trở lại Đông Dương (theo chân Anh sau Thế Chiến Thứ 2 với nhiệm vụ giải giới tàn quân Nhật ở miền Nam chiếu theo hội nghị Potsdam) để đương đầu với làn sóng cộng sản, mà ngay lúc này Hồ Chí Minh đang nắm quyền lãnh đạo tại miền Bắc.
Vào 10/1945, Hoa Kỳ đề ra trong văn kiện về chính sách trước hiện trạng tại Việt Nam:
US has no thought of opposing the reestablishment of French control in Indochina and no official statement bv US GOVT has questioned even by implication French sovereignty over Indochina. However, it is not the policy of this GOVT to assist the French to reestablish their control over Indochina by force and the willingness of the US to see French control reestablished assumes that French claim to have the support of the population of Indochina is borne out by future events.(The Pentagon Papers) – Hoa Kỳ không có ý chống lại sự tái lập lực lượng của Pháp tại Đông Dương và không có một văn kiện chính thức nào từ chính phủ Hoa Kỳ đặt nghi vấn ngay cả không có ngầm ý gì về chủ quyền của Pháp tại Đông Dương. Tuy nhiên, đó không phải là chủ trương của chính phủ để hỗ trợ Pháp tái lập quyền hạn trên Đông Dương bằng vũ lực, và Hoa Kỳ muốn thấy Pháp đưa ra yêu sách là có sự ủng hộ của dân chúng vùng Đông Dương bằng những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai.
Thái độ của Hoa Kỳ lúc này không chính thức 100% ủng hộ Pháp trở lại đương đầu với công sản, nhưng mặt khác thì đã mặc nhiên thoả thuận. Vấn đề phức tạp trong giai đoạn này là những năm từ 1941 đến 4/1945, Hoa Kỳ, Anh, và Pháp đã liên tiếp họp bàn về vấn đề trao trả độc lập cho các quốc gia bị thuộc địa, nhưng trước vấn đề Thế Chiến Thứ 2 và sự bành trướng của làn sóng đỏ mà đến đầu năm 1945 các thoả thuận cũng chưa kết thúc, mặc dù Anh-Pháp trong tinh thần đã bằng lòng trên cách giải quyết đó. Sau khi tổng thống F.D. Roosevelt qua đời vào 12/4/1945, trong hoàn cảnh bắt buộc mà tổng thống kế nhiệm, Truman, đã không tiếp tục “chính sách ép buộc các quốc gia có thuộc địa trao trả độc lập cho dân bản xứ” của cố tổng thống Roosevelt.
Một hội nghị tại San Francisco 25/4/1945 – 26/6/1945, quy tụ 50 quốc gia, bàn về nhiều vấn đề liên quan tới Thế Chiến Thứ 2 và giới hạn của 5 quyền lực trên thế giới, bàn về thực dân trao trả độc lập cho dân bản xứ, trong đó có đặt vấn đề phức tạp xảy ra tại Việt Nam. Tường trình của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Stettinius: Bidault cảm thấy nhẹ nhõm khi được Hoa Kỳ xác nhận quyền tái lập lực lượng tại Đông Dương. Georges Bidault là Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp được thủ tướng Charles de Gaulle chỉ định vào 25/8/1944 trong chính phủ lâm thời, sau khi nước Pháp được giải toả (Chính phủ Bidault, 6/1946, là cái gai của Hồ Chí Minh cũng là nguyên nhân cuộc chiến 1946-1954, sẽ chi tiết thêm ở phần sau).Từ các sử kiện trên cho thấy độ mềm dẽo và cứng rắn của Hoa Kỳ như thế nào đối với Anh-Pháp và với Hồ Chí Minh. Sự đoán trước và ngăn ngừa của phe Anh-Pháp-Hoa Kỳ đã xảy ra trong thực tế – thế lực đỏ của Staline ở Âu Châu và Hồ Chí Minh (với hỗ trợ của Mao) ở Đông Dương.
Although American OSS representatives were present in both Hanoi and Saigon and ostensibly supported the Viet Minh, the United States took no official position regarding either the DRV, or the French and British actions in South Vietnam. (The Pentagon Papers) – Mặc dù những đại diện của tình báo Hoa Kỳ OSS đã hiện diện tại Hà Nội và Saigon và bề ngoài có vẻ ủng hộ Việt Minh, Hoa Kỳ không có một vai trò gì đối với phe Hồ Chí Minh, hay những hoạt động của cánh Pháp-Anh.
Hoa Kỳ ra vẻ ủng hộ Việt Minh vì Hồ Chí Minh bắt đầu 4/1945 là nhân viên của OSS, làm công tác qua lại giữa ranh giới Trung Việt. Hoa Kỳ đã biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, một quốc tế cộng sản đang hoạt động tại Đông Dương, nhưng vẫn xử dụng ông Hồ trong lúc chiến tranh với Nhật. Vào 3/1945, Charles Fenn, thuộc OSS, đã gặp Hồ tại Côn Minh cũng đã có những trao đổi trên vấn đề Hồ là một người cộng sản.
Sau khi tuyên bố “độc lập” và không được quốc gia nào công nhận, Hồ Chí Minh liên kết ngay với phe Pháp cộng, ký với đại diện Pháp Jean Sainteny Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6/3/1946, mang Pháp về với mục đích để Pháp công nhận, thứ đến Pháp chính thức cai trị Việt Nam bên cạnh chính phủ cộng sản của Hồ Chí Minh, và dùng bàn tay Pháp để tiêu diệt các đảng phái quốc gia chống cộng sản. Lập luận cho rằng Pháp về lúc này để thay thế quân Tưởng là không đúng trên nguyên tắc vì D’argenlieux và phe Tưởng, vào 2/1946, đã ký thoả thuận về ngày quân Tưởng rút khỏi miền Bắc. Cần lưu ý là Quốc Hội của nước Pháp ngay trong giai đoạn ngắn ngủi này do thành phần đảng Xã Hội và Cộng Sản nắm quyền, lãnh đạo của chính phủ lâm thời là Felix Gouin (26//1/1946- 24/6/1946) sau Charles de Gaulle.
From the autumn of 1945 through the autumn of 1946, the United States received a series of communications from Ho Chi Minh …pleading for U.S. recognition of the independence of the DRV…. But while the U.S. took no action on Ho’s requests, it was also unwilling to aid the French (The Pentagon Papers). Từ mùa thu 1945 tới mùa thu 1946, Hoa Kỳ nhận liên tiếp nhiều thông tin từ Hồ Chí Minh cầu xin Hoa Kỳ công nhận sự độc lập của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa…Nhưng trong khi Hoa Kỳ không trả lời về những đòi hỏi của Hồ, đồng thời chính phủ cũng không có ý trợ giúp Pháp.
Mùa thu 1946 là giai đoạn Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn về phương diện ngoại giao: đang bị Hoa Kỳ tiếp tục làm ngơ, còn chính phủ lâm thời Pháp thì đang ở giai đoạn bầu cử và phe cứng rắn chống cộng đã nắm quyền quốc hội.

Đến đây cũng đủ để chứng minh rằng ngay từ ngày quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh trở về Vìệt Nam (1941) sau hơn 30 năm ở nước ngoài và một quãng dài ít nhất 25 năm hoạt động trọn thời gian cho quốc tế cộng sản, thế giới đã biết ý đồ của ông khi quay đầu trở lại Việt Nam. Lý luận cho rằng vì Hoa Kỳ không công nhận chính phủ của Hồ Chí Minh nên đường cùng ông phải theo cộng sản là một lập luận rất khập khểnh, không dựa vào những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Hơn nữa, rất nhiều sách báo Đảng ca ngợi vai trò quốc tế cộng sản của ông Hồ.
CUỘC CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ
Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946, ký giữa 2 phe Pháp ( chính phủ Gouin thân cộng) và Hồ Chí Minh kéo dài đến tháng 5/1946 vẫn chưa đi đến kết quả cụ thể, vì chính phủ Pháp đang thay đổi thành phần lãnh đạo. Ngày 28/5/1946, Phạm Văn Đồng được lệnh hướng dẫn phái đoàn qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau để mong chính thức hoá Hiệp Ước Sơ Bộ, nhưng thất bại hoàn toàn vì lập trường chống cộng của chính phủ vừa đắc cử do Georges Bidault lãnh đạo.
Ngay trước khi sang Pháp, 31/5/1946, Hồ Chí Minh viết một lá thư gởi dân miền Nam, trong đó có câu “Tôi xin hứa với đồng bào rằng HỒ CHÍ MINH không phải là người bán nước.” Tại sao ông Hồ phải nhắc tới 2 chữ “bán nước”? Thực ra thì Hồ đã bị dân miền Bắc gọi là “Hồ Chí Minh bán nước” sau vụ ký Hiệp Ước Sơ Bộ, nên có thể ông vẫn còn mang mặc cảm về hành động phản quốc này.
Hồ Chí Minh đến Pháp lúc này, nhưng đi riêng. Phái đoàn Phạm Văn Đồng trở về Việt Nam, và ông Hồ đã ở lại Pháp 4 tháng ra công vận động các bạn bè cũ thuộc cánh cộng sản và xã hội.
The night before Ho was to return to Vietnam, Salan said to him – and Ho must have known it was true – “We are going to fight each other, and it will be very difficult.” Indeed, Ho had told Sainteny and Marius Moutet, “If we have to fight, we will fight…You will kill ten of us and we will kill one of you, but you will be the ones who grow tired.” (Ho Chi Minh, by Pierre Brocheux, page 120) Đêm trước khi Hồ trở về Việt Nam, Salan nói với ông ta – và Hồ đã biết đó là sự thật – “Chúng ta sẽ đánh nhau, và nó sẽ rất là khó khăn.” Thực vậy, Hồ đã nói với Sainteny và Marius Moutet, “Nếu chúng ta phải đánh nhau, chúng ta sẽ đánh….Các ông sẽ giết 10 người của chúng tôi và chúng tôi sẽ giết 1 người của các ông, nhưng các ông sẽ là những người trở nên mệt mỏi.”
Mẩu đối thoại này đã đi vào lịch sử để chứng minh thái độ của chính phủ Pháp (Georges Bidault lãnh đạo) đối với cộng sản. Tướng Salan đã thẳng thắn tuyên bố chiến tranh với phe Hồ Chí Minh qua một lý do đơn giản: Hồ Chí Minh là một quốc tế cộng sản, một đe doạ cho nền hoà bình và an ninh của thế giới tự do.
Biết mình bị tấn công, nhưng ông Hồ vẫn còn trong tâm trạng nương níu hy vọng vào một cái gì đó dù rất là mơ hồ. Giờ phút cuối cùng trong 4 tháng vận động, Hồ đã đến nhà ông Moutet vào quá khuya ngày 14/9/1946 để 2 bên ký một tạm ước modus vivendi, nội dung tương tự Hiệp Ước Sơ Bộ gồm 11 điều khoản chia chát quyền lợi hai bên. Moutet một đảng viên Đảng Xã Hội, thân cộng, là Bộ Trưởng Bộ Thuộc Điạ, ông ngượng ép ký văn bản này dù biết không giá trị. Đúng vậy, ngày 22/9/1946 Hồ tiếp tục công tác vận động bằng cách viết một lá thư cho một dân biểu quốc hội Pháp, thân cộng, là bà Sô Dít (cách viết của ông Hồ) yêu cầu bà giúp ông làm thế nào để chính phủ Pháp công nhận “độc lập” của “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”.
Trong tâm trạng chuẩn bị cuộc chiến tranh khó tránh khỏi giữa Pháp và Việt Minh hay đúng hơn là cộng sản, không phải giữa Pháp và toàn dân Việt Nam, Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn tuyên truyền, mục đích gây sục sôi lòng thù hận trong dân chúng để đứng lên chống Pháp. “Lời Kêu Gọi Toàn Quốc Kháng Chiến” của Hồ được tung ra ngay sau khi tuyên chiến xảy ra giữa Pháp và Việt Minh ngày 19/12/1946. Đáng ghi nhận ở đây là một số không ít Việt Minh khi gia nhập vào hàng ngũ chống Pháp vì lòng yêu nước chứ không phải vì cộng sản.
Lời trong thư gửi cho bà Sô Dít đầy tính van xin: Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì tức khắc nước Pháp sẽ tranh thủ được trái tim và tình cảm của tất cả người Việt Nam. Và chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng khối liên hiệp Pháp, một khối liên hiệp tự do, vững chắc và anh em. Gần 3 tháng sau, khi không được làm bạn với Pháp thì Pháp trở thành kẻ thù, văn phong của ông Hồ trở nên nặng nề, miệt thị: … có súng thì dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cưú nước…Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Lúc còn ở Pháp vào 13/9/1946, tướng Salan tuyên bố Pháp sẽ đánh Việt Minh, ông Hồ không gì hơn là chấp nhận, nhưng trong tư thế của một lãnh đạo cộng sản được huấn luyện thuần thành, mất hết tính quốc gia dân tộc, không còn nhân bản, dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện. Phương tiện đó là áp dụng chiến thuật “biển người’ để đạt mục đích là chiến thắng, vũ khí là mạng người dù phải hy sinh hằng triệu. Ông đã nói ra phương cách này trước mặt 2 viên chức cao cấp của Pháp, Sainteny và Moutet- 10 người Việt Nam đổi 1 mạng người Pháp Hồ vẫn quyết tâm chiến đấu tới cùng!
Trong “Why Vietnam” (page 4), tác giả Archimedes Patti, nguyên là trưởng cơ quan OSS, cũng đã ghi nhận tính vô nhân này của ông Hồ:
…that his government’s policy would be one of scorched earth to the end.“..that Vietnam from north to south would be reduced to ashes, even if it meant the life of every man, woman, and child...rằng chính sách của ông ta (Hồ) là một loại “tiêu thổ kháng chiến tới cùng.”…rằng Việt Nam từ bắc tới nam sẽ bị thiêu tan thành tro bụi, ngay cả kể luôn sự sống của mỗi người đàn ông, đàn bà, trẻ con, v.v..
Thật vậy, có thể nói trong cuộc chiến tranh phân chia lằn ranh quốc cộng từ 1946 -1975, những tang thương, chết chóc, điêu tàn đã chứng minh rõ mồn một về chủ trương của người cộng sản Hồ Chí Minh. Hiện tượng “Mỹ Lai” cũng là kết quả của chính sách “tiêu thổ kháng chiến” của Hồ mà Patti đề cập trên. Cộng sản chọn lựa những nơi như trường học, nhà thờ, nơi làng mạc quy tụ dân cư để đặt căn cứ lôi cuốn đối phương vào chiến trận, mục đích làm chết dân lành vô tội và dùng đó như cái cớ hay vũ khí tuyên truyền.

Ngày đó, người người từ Nam chí Bắc nghe theo ông Hồ vì lòng yêu nước, vì cứ tưởng Pháp trở lại thực dân và xâm lược. Họ đâu biết rằng khi ông Hồ nói “hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước” là ý ông muốn nói “đất nước của quốc tế cộng sản do đàn anh lãnh đạo.” Để rồi 40 năm sau ngày ông Hồ chết, đàn em vẫn trung thành thi hành theo chủ trương của lãnh tụ. Đàn anh Liên Sô không còn nữa thì còn đàn anh Trung Cộng.

Trong vài năm gần đây, vô số những hiện tượng và sự kiện xảy ra cho thấy Trung Cộng đã cầm quyền kiểm soát Việt Nam: Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, đặt cơ sở và dân sự khai thác Bauxit vùng cao nguyên Trung phần, hàng hoá Trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam, bàn tay Trung Cộng nằm trong các cơ quan truyền thông, báo chí,v.v..Và dĩ nhiên, thỉnh thoảng tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn phải lên miền Bắc để được tuân thủ lệnh Bắc triều.

Ông Hồ luôn tạo ra hình ảnh Pháp thực dân và xâm lược bằng những bài viết bịa đặt tuyên truyền. Trên báo “Cứu Quốc” và sau này là “Nhân Dân”, ngay cả có bài viết của Hồ với những dòng “Đề nghị:-Mỗi ngày nên đăng một cái “bảng vàng,” kể một việc oanh liệt trong cuộc kháng chiến. Mục đích cốt để nâng cao chí kháng chiến của dân, tuy dùng cách ‘sùng bái anh hùng.’ Chớ nói tếu quá.” Vô số những câu chuyện “anh hùng” thêu dệt từ trí tưởng tượng của Hồ Chí Minh và các văn công khác như Trần Huy Liệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên… Sau này người ta mới biết Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Tạ Thị Kiều…là những nhân vật “anh hùng” do các cán bộ văn hóa “sáng tạo”.

Khi hô hào toàn dân chống Pháp, và dưới sự cai trị độc tài bưng bít thông tin, những gì xảy ra trên thế giới đều bị che giấu. Hồ Chí Minh đã viết khá chi tiết về năm 1946 cùng những hiện tượng xảy ra trong năm đó, về 4 tháng ở bên Pháp làm gì và gặp gỡ ai, nhưng ông Hồ đã cố tình không nhắc đến vụ Pháp trả độc lập cho Syria và Lebanon 1946, trong khi đó ông lại nhớ ghi ngày Philippines được trả độc lập vào 4/7/1946 và vụ Hoa Kỳ thử bom nguyên tử tại Bikini Atoll vào mùa hè 1946.

Tác giả Brocheux khi ghi nhận “dụng ý” của ông Hồ để người đọc đưa ra những nhận xét chi tiết hơn. Ngay lúc Việt Minh có chiến tranh với Pháp thì trên thế giới lần lượt các nước được thực dân trả lại độc lập. Thế nên nếu Hồ loan tin Pháp đã trả độc lập cho Syria và Lebanon thì dĩ nhiên người ta phải nghĩ Pháp cũng phải trả độc lập cho Việt Nam, đâu cần có cuộc chiến tranh chống Pháp. Hồ Chí Minh ghi ra vụ thử nguyên tử để làm đề tài tuyên truyền Hoa Kỳ chế vũ khí giết người và tạo ra chiến tranh; ngụy tạo hơn nữa, Hồ còn rêu rao là nhờ phong trào chống Pháp giành độc lập của Việt Minh mà Hoa Kỳ đã trao độc lập cho Philippines.

Ý thức của dân chúng, nói chung, về cộng sản độc tài và tự do dân chủ thì non kém, trình độ dân trí còn thấp nên những mê hoặc mà ông Hồ và tập đoàn tạo ra dần dà ăn sâu vào não trạng người dân, nên hầu hết mới không thấy rằng Pháp tiếp tục ở lại tái chiếm Việt Nam để đương đầu với làn sóng cộng sản lan tràn, vì Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thuộc khối quốc tế cộng sản, mối đe dọa cho toàn vùng Đông Dương và ngay cả nước Pháp lúc đó. Tài liêu cho thấy Charles de Gaulle nhiều lần “đe dọa” (black mail) Hoa Kỳ hãy nên hỗ trợ mạnh mẽ hơn về việc Pháp tái chiếm Đông Dương, nếu không thì ngay tại nước Pháp sẽ có tai hoạ cộng sản.

Tổng thống Richard Nixon, tác giả No More Vietnams, 1985 (trang 31):

An obsessive fear of associating with European colonial powers blinded successive American administrations to a very simple fact: Communism, not colonialism, was the principal cause of the war in Indochina – Một nỗi lo ám ảnh khi liên kết với quyền lực của thực dân Âu Châu đã làm đui mù chính phủ Mỹ một cách liên tiếp về một sự việc rất là đơn giản: Chủ Nghĩa Cộng Sản, không phải Chủ Nghĩa Thực Dân, là nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh tại Đông Dương.

Thật vậy, chính trị gia Nixon hiểu sâu sắc về bản chất cộng sản, những bước đi qua của ông là bài học đáng gía cho tổng thống Reagan những năm sau này. Ông Nixon đã nhìn thấy một Hồ Chí Minh thật, một Hồ với nhiều màu sắc, nhiều bộ mặt, một người cộng sản xem nặng việc phục vụ quyền lợi quốc tế nhiều hơn là quốc gia. Ông đã nhận ra rằng nhiều người còn nhìn Pháp khi đánh nhau với phe cộng sản Hồ Chí Minh là hành động “thực dân”. Một sai lầm to lớn mà Nixon nhấn mạnh cần làm sáng tỏ, và nguyên do là những tuyên truyền từ phe cộng đỏ. Cũng vì lý do này đã làm phức tạp thêm sự tiến hành trong cuộc chiến, bởi vì nó đã cho phép những những người cộng sản làm mờ đi vấn đề đang đương đầu.

Nixon nhận xét rằng cuộc chiến tự nó đã khơi nguồn từ trong ước muốn thúc đẩy của Hồ Chí Minh. Đó là ông Hồ muốn có toàn quyền lực độc tài trên đất nước Việt Nam, và chiến tranh kéo dài làm hao tổn vật lực cùng nhân lực. Xảy ra như vậy cũng do Trung Cộng hỗ trợ hùng hậu cho Viêt Minh, đồng thời phe Hồ và Võ Nguyên Giáp dốc toàn lực trong cuộc chiến thiêu thân.
No More Vietnams (trang 32): There is almost nothing in Ho’ s biography to indicate that he placed nationalism above communism. -Trong tiểu sử của Hồ hầu như không có gì để cho thấy rằng ông ta đặt chủ nghĩa dân tộc lên trên chủ nghĩa cộng sản.
Cả đời Hồ Chí Minh, tất cả ý chí, nghị lực, việc làm đều nhằm mục đích phụng sự cho quốc tế cộng sản. Ông xem nhẹ dân tộc, nặng tình với chủ nghĩa cộng sản đúng như tổng thống Nixon đã nhận xét trên.
Hình trên (VN Magazine,8,2006): Hồ (center) and General Vo Nguyen Giap (right) receive advice from Communist China during the French – Indochina War (1949-54). On the wall are portraits of Mao Tse tung and Ho. – Hồ (giữa) và Tướng Võ Nguyên Giáp (mặt) nhận chỉ đạo từ Trung Cộng trong cuộc chiến Đông Dương với Pháp (1949-1954). Trên tường là hình của Mao Trạch Đông và Hồ.
Hồ Chí Minh chỉ được Pháp công nhận trong giai đoạn Hiệp Ước Sơ Bộ ký 6/3/1946, nhưng rồi từ 9/1946 trở về sau “chinh phủ” của ông Hồ coi như bị “thả lỏng.” Mao Trạch Đông nắm quyền Trung quốc vào cuối 1949, liền sau đó, 1/1950, Mao tuyên bố công nhận “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” của Hồ. Ngoài quân sự, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp còn nhận chỉ thị từ cố vấn Trung Cộng như tài liệu ghi trên. Thành phần hy sinh trong chủ trương “biển người” của ông Hồ: (T. Lomperis, From People’s War to People’s Rule (1996): French dead: 92,707, Viet Minh: 500,000, Civilians: 250,000).
Tóm lại, cuộc chiến 1946-1954 bắt nguồn từ tham vọng bành trướng chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh, hay nói cách khác, đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản độc tài và đa nguyên dân chủ.
Bút Sử
14/12/2009